Trang 10 trong tổng số 20
Chương 6 (D)
Hai người vâng lệnh đi ra, dẫn Cửu Hoàng và Thất Chư Vào. Thi Công thấy Cửu Hoàng đầu hổ, mắt thao láo, mặt đen như cột nhà cháy, râu dài khoảng bảy tấc, tuổi trạc tứ tuần; Thất Chư da trắng nõn nà, môi đỏ, răng trắng, dáng dẻ tha thướt, tuổi trạc ngoài hai mươi. Họ đứng trước công đường nhưng không quỳ. Vái chào, cười nói:
- Thưa ngài, ngài gọi chúng tôi có việc gì?
Thi Công thấy chúng, máu sôi lên song đã kịp thời kìm nén lại, mỉm cười nói:
- Kính mời hai vị, ta thành kính muốn hai vị cùng mười ba vị tăng ni đọc kinh sám hối. Rước đèn, phá ngục, lấy nước, rải cầu, đốt pháo hoa, bố thí... các thứ như cờ, quạt, tàn lọng, dựng rạp ta sẽ cho sắm sửa và chuẩn bị. Mũ áo của tăng ni... tất cả đều phải mới tinh. Hương nến và đồ ăn chay xin phiền hai vị lo giúp. Sáng sớm mai thiết đàn trong ba ngày. Cần phải chi dùng bao nhiêu bạc?
Nghe Thi Công nói xong, Cửu Hoàng nói:
- Thưa quan lớn, được quan lớn sai bảo tiểu tăng không dám từ nan.
Dâm ni tươi cười nói:
- Cũng như ngài Cửu Hoàng nói, tiểu ni sẽ hết lòng.
- Thưa ngài, - Cửu Hoàng nói, - sáng mai đã lập đàn, chúng con cần một ít tiền mời khách, xong việc sẽ thanh toán.
anh sex
truyen dam
phim sex hay
truyen sex hay
truyen lau xanh
truyen loan luan
truyen nguoi lon
truyen sex hoc sinh
Thi Công gọi Thi An lấy bạc giao cho họ, tăng ni rời khỏi nha môn. Mỗi người mời thêm mười ba người, chuẩn bị hành lễ tất cả các thứ phải chuẩn bị đầy đủ.
Khi tăng ni nhận tiền đi ra, Thi Công sai người gửi giấy ngay cho Thủ phủ, bí mật sai quân lính bắt tên sư hung ác và tên ni cô dâm đãng. Trước nha môn dựng lễ đài và bắt rạp. Sau đó ngầm dặn các ban trong nha môn phải thực hiện thế nào. Dặn dò xong, Thi Công lại thấy Hồ Đăng Cử vào huyện đường, tay cầm tờ trình cúi chào. Thi Công nhận đơn, nói:
- Xin ông cứ yên tâm, bản huyện tuy chưa bắt được, song hiện đã điều tra ra tung tích. Chỉ một sớm một chiều là kết thúc vụ án.
Hồ Đăng Cử cúi chào Thi Công, rồi rời khỏi nha môn. Sau đó đã thấy hai người quỳ hai bên dâng đơn kêu oan. Thi Công hỏi:
- Các ngươi có việc gì, không cần phải như thế, hãy nói ta nghe.
Một người nói:
- Con tên Hải Triều, sống ở đây từ lâu: Đêm qua ngẫu nhiên gặp chuyện chẳng lành, bọn cướp vào lấy hết đồ đạc, lại cướp mất cả con gái con. Cháu sắp cưới, con không biết làm thế nào bây giờ. Mong ông lớn gia ân, cử người bắt bọn cướp để giải nỗi hận cho con.
Nghe xong Thi Công vô cùng kinh ngạc. Ông lại hỏi:
- Anh này có việc gì?
- Con là Lý Thiên Thành. - Người ấy đáp. - Buôn bán theo đường Nam-bắc. Đêm qua nơi giáp giới, bị bọn cướp chặn đường, cướp hàng hóa. Xin mong ngài cho người bắt ngay bọn cướp.
Nghe nói thế Thi Công biết ngay là do hòa thượng Cửu Hoàng và mười hai tên cướp gây ra. Thi Công nói:
- Các ngươi hãy để đơn lại đây, ta sẽ giải quyết.
Hai người vâng theo rồi ra khỏi công đường. Thi Công rời khỏi công đường, mọi người xôn xao bàn tán.
Tên hòa thượng độc ác và ni cô dâm đãng nhận bạc trở về chùa, Cửu Hoàng nói với mười hai tên đàn em:
- Ngày mai lập đàn tại huyện đường, ta đã nhận lời. Còn việc lành dữ thế nào các em phải bàn bạc đối phó.
Thi Công rời khỏi công đường. Ngồi trong thư phòng buồn rầu nghĩ ngợi: "Bọn hào bá ở Giang Đô phải bắt cho bằng hết. Những vụ án giết người thường xuyên xảy ra, có những vụ không có đầu mối. Ngoài bọn ni cô ở am Quan âm và bọn ác tăng tại chùa Liên Hoa còn có mười hai tên cướp đường. Muốn bắt bọn hung đồ, trước hết phải nghĩ kế bắt bọn cướp đầu sỏ, sau đó mới bắt bọn tay chân".
Thi Công suy nghĩ rất lung, chợt thấy trống đã điểm canh ba, lúc đó ông mới cởi áo đi ngủ. Sáng hôm sau ông dậy sớm, rửa mặt, mặc áo, rồi bảo Thi An ra ngoài chuẩn bị chu đáo chờ tăng ni lập đàn. Thi Công phải đi lễ Phật.
Hòa thượng Cửu Hoàng chuẩn bị sẵn tượng Phật đưa tới huyện đường bày trong rạp. Theo sau tên ác tăng có mười hai sư cùng lên huyện hành lễ. Thất Chư cũng mang theo các đồ tế khí tới huyện. Bày biện xong xuôi, giăng đèn kết hoa. Bên cạnh lầu trống, dựng một lầu cao. Một lát sau các tăng ni lục đục kéo đến. Tất cả vào phòng khách uống nước. Tiếp đó Thủ phủ Trấn Công tới cổng huyện đường, xuống ngựa. Lính hầu vào báo, Thi Công ra tận cổng nghinh tiếp. Hai ông đều mặc lễ phục, đội mũ, đi hia. Thi Công tới rạp dành riêng cho sư nam, chào hỏi chủ đàn; Thủ phủ tới tận rạp dành riêng cho ni cô chào hỏi chủ đàn. Cửu Hoàng và Thất Chư giấu binh khí trong người để đề phòng bất trắc. Hai ông vào rạp lễ Phật, Cửu Hoàng chú ý lén nhìn, không thấy có nhiều người đi theo. Hai tên gian ác thấy thế đều cho rằng các ông thành tâm, chúng đứng dậy cả. Thi Công mỉm cười nhìn Cửu Hoàng nói:
- Xin mời hòa thượng ngồi, tất cả mọi người không cần phải đáp lễ.
Các tăng ni đều nói:
- Đâu dám thế.
Rồi đứng cả dậy chắp tay trước ngực. Thi Công đáp lễ xong, quay ra mỉm cười nói:
- Xin phép các vị.
Hai ông trở về sảnh đường ngồi nói chuyện phiếm. Các sư và ni cô gõ ba hồi chuông trống, thắp nhang, niệm Phật, sau đó chuẩn bị tế khí, rồi gọi mang trà tới. Dâng trà xong, cầm cành phan, chấp sự, rước ra khỏi nha môn, diễu qua bốn phố, tất cả thiện nam tín nữ lần lượt theo sau, đám rước đông nghịt, chiên trống vang trời dậy đất. Đám tăng ni về tới nha môn, xếp gọn tế khí một chỗ tới trai phòng dùng cơm chay. Hai ông mời họ vào rạp, rồi dặn dò những người hầu bê thức ăn ra, và liên tục thay đổi món ăn. Mọi người bưng bê tất bật. Bọn tăng ni chú ý theo dõi hai ông, không thấy có ý gì khác, thế rồi họ rất yên tâm ăn uống. ăn uống xong họ tới rạp cúng Phật dùng trà.
Dùng trà xong, rước nước cúng thần, đến tối mới lập đàn cúng chúng sinh, bố thí đồ cùng, mãi tới canh ba mới tan. Tăng ni trở về chùa, sáng hôm sau lại tới huyện. Bọn ác tăng không thấy động tĩnh gì, hoàn toàn yên tâm. Bố thí đồ cúng xong, chúng lại trở về chùa.
Thi Công bảo Thi An:
- Hãy tới chùa Liên Hoa ở Cửa Bắc, bí mật gọi Anh Công Nhiên và Trương Tử Nhân về huyện. Có việc mật cần đến họ.
Thi An vâng lệnh ra khỏi nha môn, thẳng mấy chốc hai người đã về tới huyện. Thi An vào thư phòng thưa với Thi Công. Hai sai nha vào quỳ lạy. Thi Công mỉm cười nói:
- Hãy đứng dậy, nghe ta dặn.
Hai người đứng dậy, Thi Công nói:
- Các người ở trong chùa thấy thế nào?
Hai người thưa:
- Bẩm quan mười hai tên cướp và sư sãi trong chùa theo chúng con thì chúng có nhiều mánh lới và thủ đoạn. Tất cả bọn chúng đều võ nghệ cao cường.
Thi Công thấy thế nói:
- Không cần các ngươi phải khuếch khoác. Ta đã biết rõ võ nghệ của các người cũng không xoàng. Bây giờ có một việc cần các ngươi làm, nếu người khác làm sẽ hỏng việc. Mười hai tên cướp ở chùa Liên Hoa, nhờ hai ngươi nghĩ cách bắt chúng. Nếu để chạy thoát đứa nào thì người nhà các ngươi phải vào Tù. Hẹn trong đêm nay các anh phải bắt chúng về đây.
Hai người nghe xong run bắn, họ quỳ xuống lạy, nói:
- Bọn cướp quả thực rất ghê, chúng cưỡi ngựa và sử dụng đao kiếm rất lão luyện. Xin quan lớn cử nhiều người tới.
Nghe xong Thi Công đùng đùng nổi giận, nói:
- Tài năng của các anh ta đã biết rõ. Yêu cầu vào canh ba đêm nay các anh đến chùa bắt mười hai tên cướp và hai chú tiểu về đây. Nếu sai hẹn ta sẽ trị tội.
Hai người không dám nói thêm gì nữa, vâng dạ ra khỏi phòng.
Vừa sáng dậy, những hòa thượng đã tới nha môn tụng kinh niệm Phật. Không thấy có động tĩnh gì, và cũng không đề phòng gì cả. Tên ác tăng và con ni cô dâm đãng không mang binh khí phòng thân. Niệm kinh xong, chúng vào phòng ăn chay. Ăn chay xong chúng trở lại rạp, chuẩn bị bố thí đồ cúng.
Thủ phủ, Huyện Công nói tiếng Mãn Châu vạch định kế hoạch, tối nay sẽ bắt bọn tăng ni. Tối đến, vào lúc lên đèn, tăng ni đều tới địa điểm hành lễ. Trên chính giữa lễ đài là Cửu Hoàng, xung quanh là các tăng ni đọc kinh họa theo. Thi Công ngồi sau Cửu Hoàng, hai người ngồi hầu ông hai ba ngày nay, lễ bố thí chúng sinh cũng thế, cho nên bọn tăng ni không hề để ý tới.
Hôm ấy Trấn Công ngầm chọn những tay hảo hán, bên ngoài mặc áo dài, bên trong mặc áo chèn, giấu binh khí trong người, ngồi quanh Thi Công, chuẩn bị bắt tên ác tăng. Bên dưới là hai hàng hòa thượng và ni cô. Tiếp đó là các đồ tế khí. Trấn Công cũng làm đúng như Thi Công, chuyên ngồi sau Thất Chư, trên lễ đài cũng có hai người hầu. Chỉ chờ bên Thi Công hành động, thì bên này cũng ra tay. Trong ngoài đã phục sẵn, chờ hiệu lệnh là xông vào tóm gọn.
Hai sai nha vừa tới chùa, hai chú tiểu trông thấy cười nói:
- Hai ông anh nghèo, các anh không quét điện thờ Phật, mà lại đi đâu về thế?
- Chú không biết à! - Công Nhiên nói. - Hôm qua nghe thấy ngài họ Ngô ở trong thành về nhà mới, định đi kiếm bữa, ngờ đâu chỉ được bát cháo loãng.
Chú tiểu cười hả hê, nói:
- Các anh không may, chúng tôi đem thúc ăn cho các anh mà không thấy, thôi đến tối hãy ăn, bây giờ nhờ các anh lên quét trên lầu.
Hai người sai dịch nghe theo, rất may đang cần thăm dò tình hình bọn cướp. Nên cầm ngay chổi và chiếc hốt rác lên quét lầu. Trời tối dần, đèn nến đã thắp. Mười hai tên cướp đang tụ tập trên lầu uống rượu với nhau.
Chúng chơi trò phạt rượu, tới canh ba tất cả bọn chúng, đứa nào nào cũng uống vài ba chén. Vì chúng chờ Cửu Hoàng về rồi uống tiếp, để bàn nhau đi cướp. Hai sai nha thừa cơ hội bỏ thuốc mê vào chén. Sau đó lừa hai chú tiểu đi lấy rượu và thức nhắm, dùng ảo thuật trói chặt hai chú tiểu rồi nhét bông vào mồm.
Hai sai nha gõ cửa, rồi tới nhà bếp. Bọn sư đều ham rượu, thấy hai người nói:
- Hai anh nghèo, các anh hãy lấy luôn cho chúng ta, xin cám ơn.
Anh Công Nhiên và Trương Tử Nhân, nói:
- Vâng ạ.
Họ ra khỏi bếp rồi đi xuống, vẫn nghe thấy bên trên còn tiếng cười, biết là thuốc mê chưa ngấm. Hai người cảm thấy lo lắng: "Đến giờ mà người của huyện vẫn chưa tới ứng cứu, làm thế nào đây?”.
Tại lễ cúng chúng sinh, Cửu Hoàng kéo dài giọng đọc, ê a đọc tùng chữ rất to. Dưới lễ đài, các hòa thượng đánh trống gõ mõ họa theo. Tay hắn gõ, nhưng mắt cứ liếc nhìn ni cô. Vào canh ba, Thi Công thấy phục binh rất đông, tất cả đã sẵn sàng chờ lệnh là hành động. Thi Công thấy thế rất đắc ý, ngầm đưa mắt ra hiệu. Những võ sĩ hiểu ý, chờ thời cơ là ra tay. Sau đó ông liếc mắt đưa hiệu cho những trai tráng, binh lính, sai dịch. Các võ sĩ không dám chần chừ, đều bước tới sau lưng tên ác tăng, ôm chặt lấy Cửu Hoàng, vật hắn xuống. Tất cả dùng gậy gộc, tay thước đập túi bụi vào người Cửu Hoàng. Bị trói chặt, hắn không sao cử động được. Bên kia, Trấn Công thấy mọi người hành động, cũng ra tay. Thất Chư vừa bố thí lễ vật, đang lúc ồn ào, bỗng nghe thấy tiếng cười. Ni cô chột dạ, thì Thủ phủ đã đứng lên như một con hổ đói, ôm chặt lấy Thất Chư. Thất Chư ra sức giãy giụa, làm ông ngã lăn xuống đất. Hai võ sĩ chồm tới, dùng gậy sắc đánh vào vai. Thất Chư tay không, bị đánh tối tăm mặt mũi, ngả soài xuống đất. Trấn Công bò dậy nói:
- Ghê thật, con ni cô dâm đãng này rất khỏe.
Thế rồi ông gọi lính lại. Lúc ấy Thủ phủ mới an tâm. Dâm ni cô ra sức gào thét, Thủ phủ sai lính vả vào mồm, ni cô không dám kêu gào nữa. Những tăng ni khác không dám ho he.
Hai ông dẫn lính, mở cửa Bắc thành, đốt đuốc sáng rực như ban ngày, đến thẳng chùa Liên Hoa. Hai người sai nha ở chùa Liên Hoa chờ sốt ruột, thấy đàng xa đèn đuốc sáng rục, biết rằng quân lính trong thành đã tới, họ nói:
- Ta phải ra đón ngay!
Hai người chạy vội ra, quỳ trước mặt Thi Công. Thi Công cuộc nói:
- Các anh làm thế nào rồi?
Hai người kể lại những việc đã làm. Thi Công rất hài lòng, nói:
- Anh Trấn, tôi và anh giữ chặt ngoài cửa chùa, để hai người dẫn quân vào bắt bọn cướp và trói tất cả sư còn lại giải lên huyện.
Thủ phủ nghe theo, sau đó bảo Công Nhiên và Tử Nhân:
- Các ngươi hãy dẫn năm mươi người lính vào chùa, trói toàn bộ bọn cướp và sư lại giải về thành, ta sẽ trọng thưởng các ngươi.
Hai người dẫn quân ập vào, tới thẳng lầu Ngọc Hoàng. Mười hai tên cướp uống phải thuốc mê đều bị bắt. Họ lại dẫn mọi người tới bếp, thấy sư say rượu đang nằm nghiêng ngả, họ trói cả lại. Hai người ra báo lại với Thi Công và Thủ phủ mọi việc giao cho đã xong. Hai ông xuống ngựa vào chùa ngồi trước hiên. Đèn đuốc sáng rực như ban ngày. Thi Công nói:
- Hãy dẫn bọn cướp và hòa thượng tới đây ta hỏi.
- Bọn chúng còn mê chưa tỉnh. - Công Nhiên nói. - Chỉ có hai chú tiểu là còn tỉnh.
- Hãy đưa chúng tới đây. - Thi Công nói.
Hai người vào phòng, lấy giẻ trong miệng hai chú tiểu ra, cởi thừng trói chân, dẫn tới trước mặt Thi Công. Thi Công chỉ vào mặt họ quát:
- Các ngươi không được nói bừa! Cửu Hoàng đã bị bắt, nếu không khai thực ta sẽ giết chết.
Thấy Cửu Hoàng và Thất Chư bị bắt, biết đã nguy, chúng nói:
- Thưa ngài, ngài đừng tra tấn, chúng con xin khai thực.
Thế rồi chúng khai vì sao trước đây phải đi tu, đi làm điều độc ác và gian dâm như thế nào. Và chúng kể lại chuyện, có hai vợ chồng vào tránh mưa ở hiên chùa, họ dụ vào chùa, dùng gậy đánh chết chồng, rồi nuôi người vợ để hành dâm. Hiện nay thi thể người chồng vẫn còn chôn trong chùa...
Thi Công nghe xong, nói:
- Người đàn bà ấy vẫn còn, sai dịch hãy đi gọi tới đây.
Chẳng mấy chốc người đàn bà đến. Thấy thân hình tiều tụy, Thi Công hỏi:
- Ngươi ở đâu, vợ chồng đi đâu mà qua đây?
Người đàn bà kêu:
- Thưa quan lớn, chồng con là Dương Tiễn Bảo, bị hòa thượng giết, con thì bị bắt ở lại chùa.
- Tại sao không đi kiện cho chồng ngươi? - Thi Công hỏi.
- Vì sao chồng chết lại theo sư?
- Họ khóa con trong phòng. - Người đàn bà nói. - Con không sao trốn được.
- Cũng phải bảo toàn khí tiết. - Thi Công nói. - Sao lại chịu sống như thế mà không chú ý đến đại nghĩa? Ta không tiện hỏi tỉ mỉ về duyên cớ.
- Con sống tại đường La Văn. - Người đàn bà nói. - Tên là La Phượng Anh. Chồng con buôn bán bị thua lỗ, không biết dựa vào ai. Nhân có ông bác cả sống ở đường Chữ Thập tại Giang Đô, con và chồng con tới đó nhờ vả qua ngày. Không ngờ tới đây thì trời đổ mưa. Gặp ngay bọn ác tăng vô cớ dùng gậy đánh chết, rồi bắt con ở đây để chúng hành dâm. Con không còn cách nào khác, mong sao mây đen tan đi, con được thấy mặt trời, con sẽ minh oan cho chồng con. Đem xác chồng con về chôn cất, thì con có về nơi chín suối mới nhắm mắt được.
Nghe xong Thi Công vô cùng thương xót. Trời lúc ấy cũng đã sáng, Thi Công bảo:
- Ngươi hãy đứng dậy theo ta vào thành, sẽ được xét xử công minh.
Thi Công cho giải mười hai tên cướp này đi, rồi để một số lính lại coi chùa. Nói xong, hai ông rời chùa, lên ngựa vào thành. Người hai bên đường đông nghịt, xôn xao bàn tán.
Lại có hai người đàn ông và một người đàn bà, ngăn ngựa quỳ xuống thưa:
- Chúng con vô cùng oan uổng!
Hai ông dừng ngựa, thấy người đàn bà trạc ba mươi tuổi. Tóc vấn như nàng tiên, mặt trái xoan, da dẻ hồng hào. Thắt đáy lưng ong, mềm mại như liễu rũ, mặc áo xanh quần màu lam, tay đeo ba chiếc xuyến vàng, mắt bồ câu mơ màng. Hai người đàn ông, một người tướng mạo hung ác, áo mũ chỉnh tề; một người mắt lác, mặc áo vải thô, tất trắng, giày mũi nhọn, mồm há, mắt mở trừng trừng, mặt tái mét. Thi Công nhìn khắp lượt nói:
- Các người đều là người đi kiện à?
Tên hung ác nói trước:
- Vâng... ạ.
Bỗng nhiên lại có một người kêu oan, kiện Thổ thần. Người này ăn mặc bình thường. Thi Công bảo:
- Hãy dẫn tất cả về huyện phán xét.
Lính hầu tuân lệnh, khóa tất cả lại. Hai ông lên ngựa về nha môn, tới hiên họ xuống ngựa, lập tức vào công đường. Trấn Công ngồi bên cạnh Thi Công, quân lính xếp hàng bên dưới.
Thấy có hai người vào lối cửa ngách kêu van:
- Thưa ngài con tới kêu oan.
Thi Công thấy người vào kiện vận toàn quần áo lụa là. Người thanh tú, tuổi trạc ngoài bốn mươi, dáng người hiền lành. Xem xong Thi Công nói:
- Có việc gì lạ? Hãy khai rõ họ tên.
- Con là Vương Tự Thần. - Người ấy nói. - Ở tại Đông Quan. Cha mẹ đều đã mất, chỉ có vợ. Con làm nghề cầm đồ, nhà đối diện nhà con là am ni cô Đại Tạng, nữ ni cô tu tại đó. Tối qua con về nhà hơi muộn, lúc ấy khoảng canh ba, trăng vẫn còn sáng. Khi về nhà gõ cửa, bỗng con thấy trên cổng am, treo hai đầu người, một nam, một nữ. Con sợ chẳng còn hồn vía gì cả, vội vào ngay nhà khóa cổng lại. Đến khi trời sáng con không dám giấu. Sáng nay nữ tăng trong am là Lão Ni lại đến dọa con, không được báo quan.
Thi Công thấy thế nghĩ thầm, tại sao những chuyện quái lạ đều xảy ra ở nơi đây. Chỉ có làm như thế... mới được. Thế rồi ông bảo sai nha cùng với Vương Tự Thần đi gọi ni cô trụ trì tới.
Thi Công lại bảo sai nha tới, gọi ngay người cáo giác là Hải Triều tới nghe phán xử, và báo cho Lý Liên Thành và Hồ Đăng Cử - người đã báo về vụ giết người tới nghe phán xét. Sau đó Thi Công cho gọi tên ác tăng tới xét hỏi. Tới công đường, tên ác tăng này không quỳ. Thi Công nổi giận quát:
- Tên ác tăng kia, hãy khai mau.
Cửu Hoàng quát to:
- Bần tăng là đệ tử của Đức Phật Như Lai, cẩn thận giữ gìn phép tu hành. Ngài mời ta đến mở hội cầu phúc, tại sao lại bắt ta. Pháp luật của Đại Thanh rất nghiêm minh, ngài căn cứ vào đâu mà bắt?
Thấy hắn tỏ ra bất bình, ông đập bàn quát:
- Ta sẽ cho người đối chất.
Thế rồi ông gọi hai chú tiểu quỳ trước công đường, Cửu Hoàng trông thấy chửi:
- Con lừa trọc đầu tới đây làm gì?
Chú tiểu nói:
- Ngươi phạm tội rồi, ngươi hãy mau khai ra thì khỏi phải tra tấn.
- Ngươi là tên hung ác, bản quan đã biết hết cả rồi.
Thi Công bảo đưa tên ác tăng xuống dưới và giải những hòa thượng chùa Liên Hoa tới. Lính hầu dạ ran, đưa bọn này tới quỳ trước công đường. Thi Công cười nói:
- Các ngươi hãy khai thực, ta sẽ tha thứ.
Bọn hòa thượng cúi đầu nói:
- Xin ngài cứ hỏi Cửu Hoàng thì sẽ rõ những vụ án giết người.
Thi Công cho người đưa họ xuống dưới và giải mười hai tên cướp lên. Chúng quỳ trước công đường, mặt mũi đứa nào trông cũng hung ác dữ tợn. Lúc ấy chúng đã tỉnh và biết mình đã bị bắt.
Thi Công nói:
- Ta có lời cần bàn với các ngươi. Hiện nay Cửu Hoàng và Thất Chư đã bị bắt. Ta rất thương người, các ngươi hãy khai thực, nếu che giấu cho Cửu Hoàng và Thất Chư, tức là hại mình. Không những người nhà mình chịu tội mà tính mạng của mình rồi sẽ ra sao. Các ngươi hãy nghĩ cho kĩ.
Nghe thấy Thi Công nói thế, bọn cướp rất cảm động. Chúng đều nói:
- Thưa quan lớn, chúng con không dám không khai, quan lớn dạy rất đúng. Xin quan lớn cho gọi Cửu Hoàng tới cùng chúng con đối chất để thấy rõ trắng đen. Cúi xin quan lớn tha chết.
Thi Công nghe xong, nói:
- Lát nữa sẽ gọi tên ác tăng tới, các ngươi hãy khai rõ họ tên, rồi sẽ cho gọi Cửu Hoàng.
anh sex
truyen dam
phim sex hay
truyen sex hay
truyen lau xanh
truyen loan luan
truyen nguoi lon
truyen sex hoc sinh
Thứ Tư, 30 tháng 5, 2012
Đoán Án Kỳ Quan Tập 2 1 - 11-9
Trang 9 trong tổng số 20
Chương 6 (C)
Nghe xong người đàn bà ấy quay ra, quả thấy chồng đang quỳ ngoài ban công, cúi đầu không biết đang nhìn gì trong tay. Thấy vậy người đàn bà rất buồn.
Thi Công bảo sai nha:
- Ngươi ra đứng trước cửa, hỏi thật to xem Lưu Vĩnh có bạc hay không?
Sai nha ra cửa, cất tiếng gọi to:
- Lưu Vĩnh, quan lớn hỏi ngươi, còn bạc hay không?
Lưu Vĩnh cứ tưởng hỏi chữ "bạc" trên tay, đáp to:
- Còn bạc.
Sai nha vào bẩm:
- Thưa ông lớn, vừa giờ Lưu Vĩnh trả lời là còn bạc, không dám động tới.
Thi Công hỏi:
- Người đàn bà kia, ngươi có nghe thấy chồng ngươi trả lời: còn bạc vẫn chưa dám động tới, cho nên hắn bảo ta phải lệnh cho ngươi tới. Ta nghĩ rằng ở nhà ngươi nhất định có bạc. Ngươi không chịu nói thực, ta cũng không cần truy hỏi. Ngươi đã không nghĩ tới tình vợ chồng thì bản huyện cũng không thương dân, sẽ dùng hình phạt nặng nề để truy hỏi chồng ngươi, ngươi đừng có trách ta.
Vừa nói, quan huyện vừa nhìn. Thấy người đàn bà này có phần khiếp sợ. Thi Công lấy hết sức đập bàn đến rầm một cái, nghe váng cả tai, quát:
- Hãy mang kẹp loại lớn ra đây.
Bọn sai nha dạ ran, rồi chạy đi khệ nệ khiêng cùm, tới đặt trước công đường. Mang cùm đến cốt để dọa người đàn bà, Thi Công vẫn không cho cùm, mà lại quay sang nói với người thư lại đứng bên cạnh rằng:
- Các ngươi theo hầu ta, các ngươi biết ta dùng hình phạt nặng như thế nào rồi, phải mặt sắt, không chút thương tình. Ta chỉ thương những người buôn bán, vất vả kiếm được ít tiền nuôi vợ con. Nay nếu Lưu Vĩnh vào nha môn nhận bồi thường cho khách thì mọi việc sẽ dễ dàng, mà lại thể hiện đức tốt của ta. Ngờ đâu người đàn bà này đã không hiểu đạo lý, lại còn oán trách ta. Thị không nghĩ tới tình cảm vợ chồng, ta bất đắc dĩ phải dùng hình phạt.
anh sex
truyen dam
phim sex hay
truyen sex hay
truyen lau xanh
truyen loan luan
truyen nguoi lon
truyen sex hoc sinh
Người thư lại ấy hiểu được dụng ý của quan huyện, trả lời rằng:
- Ông lớn rất sáng suốt. Phải dùng hình phạt nặng mới khuất phục được dân tâm.
Thi Công lại nhìn sắc mặt của người đàn bà, thấy bộ mặt phấn son ấy cúi gằm xuống. Thi Công lại đập bàn rầm rầm, bảo sai nha bắt đầu cùm kẹp chồng chị. Thị sợ, mặt tái mét, khấu đầu lia lịa, nói:
- Xin quan lớn đừng cùm, con xin khai thực.
Thi Công mỉm cười, chỉ vào mặt thị nói:
- Hãy mau khai ra, nếu đúng ta sẽ không cùm kẹp chồng người.
Người đàn bà nói:
- Ở nhà có một gói bạc, chồng con bảo cất đi, con không biết là bao nhiêu, chồng con dặn không được phép nói với ai. Vừa rồi ngài truy hỏi, con không dám nói ra số bạc ấy. Ngài vừa hỏi, chồng con bảo còn bạc không động tới, con mới dám khai thật. Xin ngài rộng lòng thương, con xin tình nguyện nộp số tiền ấy cho quan, khẩn thiết mong quan lớn miễn hình phạt.
Nghe xong, Thi Công cười ha hả, truyền lệnh đưa Lưu Vĩnh vào xét hỏi. Lính hầu vội ra cửa công đường gọi:
- Lưu Vĩnh vào công đường cùng đối chất với vợ.
Nghe thấy Lưu Vĩnh rảo bước đi vào, tới nơi nhìn thấy vợ, bất chợt giật mình, biết rằng việc giấu bạc đã bại lộ, mặt hắn tái nhợt, quỳ xuống. Thi Công quát hỏi:
- Lưu Vĩnh, "bạc" có động tới gì không?
Thấy Thi Công hỏi, Lưu Vĩnh giơ tay lên, nói:
- "Bạc" vẫn còn.
Thi Công gật đầu, nói:
- Còn bạc là được rồi.
Còn Lưu Vĩnh nói với vợ:
- Sao bà không ở nhà, lại tới đây làm gì?
Ngô thị thấy chồng bực tức hỏi, thị mắng:
- Đồ vô lương tâm, ông còn mặt mũi nào mà hỏi tôi như thế! Tôi hỏi ông, ông là đàn ông, nợ công khoản, là chủ sự, trả hay không là do ông, sao lại nói với quan lệnh cho đàn bà tới xuất đầu lộ diện. Ông phải biết rằng, tôi còn mặt mũi nào mà gặp bạn bè. Hãy về lấy ngay tiền mà ông đưa cho tôi - tôi để ở chiếc va li da gác lên trần nhà, tới giao nộp khoản tiền công quỹ mong ngài tha đánh.
Ngô thị nói thế khiến Lưu Vĩnh sững người, trợn tròn mắt, cứng họng không sao nói được. Ngừng một lát, chẳng biết vì sao, Ngô thị lại giục:
- Sao không về ngay mà lấy đi, lẽ nào cứ ngồi ngây ra đấy mà trả được nợ à!
Thấy thế Lưu Vĩnh chửi toáng lên:
- Bà là con ngu xuẩn, ai bảo bà lắm lời!
Thấy việc của hắn đã bại lộ, Thi Công nổi giận quát:
- Vợ chồng ngươi còn cãi nhau nữa ư. Ta sẽ vả vỡ mồm các ngươi.
Lưu Vĩnh, Ngô thị sợ quá, cúi đầu không dám nói nữa.
Thi Công nổi giận quát:
- Lưu Vĩnh, ngươi đã giấu số bạc của ông ấy, ngươi là kẻ lừa dối. Song không ngờ, lẽ trời sáng tỏ, quỷ thần giám sát. Mày là kẻ đáng chết. Con người ta sống trong khoảng trời đất, phải trung hiếu tiết nghĩa, biết liêm sĩ, giữ niềm tin, kẻ trượng phu phải răn dạy vợ con, phải biết giữ mình, buôn bán giao dịch, phải công bằng, không lừa dối bất cứ ai, luôn ngay thẳng thì thần linh sẽ phù hộ độ trì, buôn bán mới phát đạt. Tâm địa hại người vừa nẩy sinh, thần Phật đều biết cả, các ngài im lặng mà biết rất rõ. Chu Hữu Tín vừa đổ bạc, ngươi muốn giấu đi, trời không dung tha. Lôi đến cửa quan, ngươi còn dám quanh co. Tang chứng không có, nếu ta không sáng suốt thì sao mà xử được vụ án này. Ngươi chỉ biết gian dối, chứ ngươi không biết ta phán đoán sự việc như thần thánh. Mới dùng một kế nhỏ ngươi đã mắc tròng. Lẽ ra ta phải xử tội nặng, song quan thấy ngươi ngu muội, phạt ngươi năm lạng bạc cho ngươi tự sửa lỗi lầm. Nếu còn điêu oa thì ta sẽ xử ngươi nặng hơn.
Thi Công lại nói với Điêu thị:
- Là đàn bà ngươi dám oán trách ta, này hãy nghe ta nói đây: chồng ngươi không phải nợ công quỹ, mà hắn đã đánh cắp bạc của người đổi bạc. Vì truy hỏi, chồng ngươi không chịu nhận, ta phải nghĩ ra mưu kế truyền lệnh gọi ngươi đến. Đầu tiên ngươi oán trách quan huyện không nên gọi ngươi tới đối chất, nay việc đã bại lộ, còn nói năng gì nữa không? Vì sao đàn bà mà cũng vô lương tâm, ám hại người. Ta nghĩ ngươi cũng là đàn bà, nên ta không phạt ngươi.
Ngô thị nghe quan nói, khấu đầu, vô cùng cảm ơn quan huyện.
Đứng bên cạnh Ngô Vĩnh sợ quá, mặt tái xanh tái xuất, khấu đầu nói:
- Bẩm quan lớn, con xin nguyện nộp phạt.
Thi Công thấy thế cười ha hả, nói:
- Hãy lôi Lưu Vĩnh ra, đánh cho hắn mười lăm gậy.
Thấy chồng bị đánh, Ngô thị lòng đau như cắt, không sao chịu nổi. Thi Công cho gọi Chu Tín vào, nói:
- Ngươi đánh mất số bạc là do sơ ý. Đồng tiền liền khúc ruột. Dù nói chuyện với cậu thì cũng phải thu lấy bạc. Nếu như bị bọn trộm xung quanh lấy đi thì khó lấy lại. May mà Lưu Vĩnh lừa dối lấy đi, đến nỗi cãi nhau, rồi đưa cửa quan. Nếu ta không tìm ra, ngươi sẽ trách móc ta là không sáng suốt, rồi sẽ bàn tán những lời bất nhã. Bây giờ thì bạc đã lấy lại, nhưng phải nói, ngươi cũng có lỗi trong việc này. Ta định phạt ngươi về thói lơ đễnh, nhưng ta tha cho ngươi. Từ nay phàm làm việc gì ngươi cũng phải cẩn thận.
Chu Hữu Tín khấu đầu tạ ơn. Thi Công lại nói với Lưu Vĩnh:
- Lưu Vĩnh, ngươi lương tâm mờ ám, ta đánh ngươi, lại phạt nặng. Số tiền ấy nhập vào công quỹ, cứu tế người nghèo để ngươi thấy đó mà sửa chữa lỗi lầm, và cũng chứng tỏ rằng, ngoài phép vua, còn có quỷ thần chứng giám.
Thi Công làm việc danh chánh ngôn thuận, không những Lưu Vĩnh cảm ơn, mà tất cả mọi người đều tâm phục khẩu phục. Thi Công cho người cùng đến hiệu đổi tiền, lấy bạc về giao cho Chu Hữu Tín, và lấy năm lạng bạc nhập vào công quỹ. Rồi quan huyện lại hỏi hai người rằng:
- Lời ta nói có đúng không?
- Dạ rất đúng ạ. - Hai người đáp.
- Đã biết thế thì ta tha tho cả hai người. - Thi Công nói.
Mọi người tạ ơn quan huyện. Sai nha lại cùng Lưu Vĩnh ra khỏi nha môn.
Thi Công sắp rời khỏi công đường, lại thấy có hai người từ cửa ngách bước tới hiên. Một người gánh đôi hòm cắt tóc đặt trước hiên rồi bước vào công đường quỳ xuống, ngước lên quan nói:
- Con đã giải Đổng Lục tới.
- Hãy gọi người đàn bà kia vào đây ta hỏi. - Thi Công nói.
Sai nha tuân lệnh bước ra khỏi công đường. Thi Công nhìn xuống, chú ý sắc mặt Đổng Lục, da thô nháp, mắt to, mũi cao, râu đuôi én, trạc trên dưới bốn mươi tuổi, mặt dữ tợn, hằm hằm giận dữ. Thi Công nhìn xong, hiểu ra ngay, hỏi:
- Ngươi tên gì? Hãy nói mau.
Thấy hỏi, người ấy cúi đầu nói:
- Thưa ngài, con là Đổng Lục, là con thứ sáu, đời đời sống tại Giang Châu. Con sống bằng nghề cắt tóc. Không biết vì sao quan lệnh cho con đến nha môn.
Thi Công nghe xong nói:
- Vợ ngươi tố cáo ngươi.
Thấy thế Đổng Lục giật thót mình, bèn thưa:
- Thưa ngài, vợ con là Phùng thị, mắc chứng bệnh điên đã hơn nửa năm nay. Không biết vì sao bà ấy lại kiện con, cúi mong ngài gọi bà ấy đến đây đối chất, xem bà ấy kiện con về cái gì!
Thi Công nói:
- Việc thị kiện ngươi, ta đã nghĩ từ lâu, nếu là vô lý thì: một là, thị lừa dối trời, mất hết luân thường đạo lý; hai là, thị mắc chứng điên. Bởi thế ta mới cho gọi ngươi tới đây đối chất xem thật giả thế nào.
Rồi Thi Công cho lính hầu khiêng cùm đến, sau đó giải Phùng thị vào quỳ một bên. Thấy vợ, Đổng Lục quát:
- Con đàn bà ngu xuẩn, có bệnh thì ở nhà mà chữa trị mới phải. Vì sao lại lên huyện cáo giác?
Phùng thị thấy chồng nói thế, tức run người, chửi:
- Sao trời không giết chết ngươi đi? Ngươi vẫn còn nói những điều điên rồ như thế ư? Hãy thôi đi, giờ đây ngươi là kẻ thù của ta.
Thi Công thấy thế quát thét:
- Các ngươi không được chửi càn. Trước hết ta cho Phùng thị nói. Ngươi mà cãi ta vả vỡ mồm.
Phùng thị khấu đầu thưa:
- Thưa ngài, nỗi oan ức của con đến gỗ đá nghe thấy cũng phải động lòng thương. Con đời đời sống ở Giang Đô, cha mẹ đều mất sớm, chị dâu gã con cho Quách Ngộ Bằng. Chồng con mở cửa hàng bán quần áo, vốn ham mê rượu chè. Là người thật thà hiền lành, chồng con đã giao du với tên bất nghĩa Đổng Lục này. Hắn là người sống bừa bãi. Khi chồng con còn sống, dẫn hắn về, thân thiết như người nhà. Ai ngờ tên này mặt người dạ thú, hắn để ý đến con, rồi ngấm ngầm toan tính kế bất lương. Từ đó trở đi họ uống rượu với nhau suốt ngày, không uống rượu với thức nhắm mà uống rượu với gừng. Không đầy mấy tháng sau, chồng con đổ bệnh, người sưng húp ho ra máu rồi chết. Thật khổ cho con, không có chú bác, anh em. Đang lúc trời nóng nực, thi thể chồng con vẫn còn nằm đó, con không biết làm sao, đành phải bước đi bước nữa, bán thân lấy mấy lạng bạc lo ma chay cho chồng. Đáng giận là, đang lúc tang gia bối rối, con không nghĩ ra, mà cũng chẳng còn lòng dạ đâu mà nghĩ, nên con đành phải nhắm mắt, đưa chân. Đi qua mấy chục nhà, rồi đến nhà hắn, thấy hắn mới biết là mình lấy Đổng Lục.
Phùng thị lại nói tiếp:
- Con đã bằng lòng, càng khó mà hối tiếc được, tiền con bán mình cho người ta đã tiêu rồi. Con đành phải ngậm oan, sống cho qua ngày đoạn tháng. Mấy mươi năm nay con sinh được hai đứa con. Ai ngờ lưới trời lồng lộng, thưa mà không để lọt việc báo ứng quả không sai. Hôm kia đứa ác ấy uống rượu say về, không biết thần xui quỷ khiến thế nào, nó đã thông thốc nói ra hết. Nó nói rằng: vì muốn chiếm con, nên nó đã dùng mưu kế, cho chồng con uống rượu với gừng làm nát phổi, không ai biết được. Chỉ trong vòng một trăm ngày đã giết chết chồng mày, chắc mày cũng không biết được, tình xưa nghĩa cũ mày có thương nó không. Nói xong nó ngủ thiếp đi. Nghe nói thế, con vô cùng đau đớn và căm giận. Con nghe người ta sinh ra trên đời này, đàn ông phải trung hiếu, đàn bà phải trinh tiết. Kẻ không biết nghĩa lý liêm sĩ thì khác nào chó lợn. Hiện con đang trong dinh của ngài lẽ nào vì liên quan đến con cái mà cứ để cho nước chảy bèo trôi. Nếu như vì tình con cái máu mủ thì không thể minh oan cho chồng được. Nay may mắn con báo được thù, con có nhắm mắt xuôi tay xuống dưới cửu tuyền cũng không ân hận. Con với thằng khốn nạn ấy, ân ái biến thành cừu thù Con chỉ có một nguyện vọng là mình minh oan cho chồng, thì dù bị dao đâm thành muôn vạn mảnh con cũng vui lòng.
Nghe Phùng thị nói, ai ai cũng xót thương. Đổng Lục bên cạnh vừa nghe thấy thế, cuống lên, bất chấp cả luật pháp, hắn phồng mang trợn má chửi Ngô thị:
- Con dâm phụ nói càng. Đúng là nó điên rồ rồi! ăn mặc chưa vừa ý mày thì mày cũng phải chịu vậy, tại sao trước mặt ngài mày dám nói bừa. Mày không nghĩ rằng thằng Đổng Lục này đã kéo cho mày bao nhiêu vòng, có phải là việc dễ đâu? Mày là con đàn bà chua ngoa, điên khùng. Mày kiện tao có chứng cứ gì không? May mà được ông lớn khoan dung, không trách mắng mày, để cho mày nói bậy.
Phùng thị giận tím mặt, chửi:
- Đồ chết giẫm, mày còn dám cãi bướng! Quỷ thần đã bắt mày tự nói ra, mày cho chồng tao uống rượu với gừng cho nát phổi, mày mưu hại chồng tao. Trước mặt quan mày vẫn không chịu nhận.
- Mày là con dâm ác chua ngoa! - Đổng Lục chửi. - Chồng mày chết không có tiền chôn, mày van xin tao lấy mày. Có mối lái cưới xin hẳn hoi, sinh con đẻ cái, sống với nhau mấy chục năm nay. Vì cơm ăn, áo mặc không đủ, mày mắc chứng điên, giả thành ma quỷ kiện cáo, đổ cho tao giết chồng mày để lấy mày. Có chứng cớ gì về việc tao hại chồng mày không? Hơn nữa mày biết tao là kẻ thù sao trước đây không đi kiện. Tao hỏi mày, vì sao mày lấy tao, rồi lại kiện tao?
Phùng thị giận run lên, không sao nói được. Thi Công đã hiểu, cố ý chau mày, quát mắng:
- Mày là con mụ chua ngoa, điên khùng! Mày không có lý gì để kiện chồng. Không biết thế nào là tam tòng tứ đức. Đã biết chồng chết oan, sao không minh oan từ sớm? Mày đã lấy người ta, rồi lại trở thành kẻ thù, chẳng phải mày đã đồng mưu hãm hại chồng sao? Sống với nhau đã mấy chục năm, nay lại đi kiện chồng! Ta cho rằng người chồng mới không làm vừa lòng mày, nên mày đi kiện. Người xưa nói: "Trái tim người đàn bà độc ác đỏ như mào hạc!".
Thế rồi ông bảo người hầu mang dụng cụ tra tấn ra, nói:
- Ta phải cho con đàn bà điêu oa này một trận, tha thứ cho mày thì sợ mày không hối cải, lại làm hại người khác. - Thi Công càng nói càng phẫn nộ, rồi hạ lệnh:
- Các ngươi đâu, hãy lôi con đàn bà độc ác này ra ngoài, đánh cho nó một trận.
Lính hầu dạ ran, rồi như quạ vồ gà con, họ hằm hằm lôi người đàn bà ra ngoài, mang theo hàng loạt dụng cụ tra tấn. Phùng thị sợ run như cầy sấy, cuống cuồng chết lặng đi, rồi sau đó gào lên, giọng khản đặc:
- Oan con quá! Oan con quá!
Bọn lính hầu dẫn người đàn bà ấy sang phòng bên. Một lát sau, người đàn bà ấy kêu gào thảm thiết như bị tra tấn. Trước khi gọi Đổng Lục, Thi Công đã dặn lính hầu đưa Phùng thị vào phòng bên, không được tra tấn, nhưng bảo Phùng thị cứ kêu rên như bị tra tấn. Lính hầu lại giả vờ làm cho dụng cụ tra tấn kêu loảng xoảng y như tra tấn thật. Tên ác nhân không biết, nghe thấy vợ kêu ran, đau xót không sao cầm lòng được. Hắn quỳ xuống rồi tiến lên nửa bước, nói:
- Bẩm quan lớn, cho phép con được thưa: vợ con có bệnh, xin ngài đừng phạt, để lại cho vợ con mười ngón tay, để may và kiếm sống. Con thấy phạt thế vợ con biết được lỗi lầm là được rồi.
Nghe xong Thi Công quát:
- Mày là thằng to gan, tao vả mồm mày bây giờ. Triều đình lập ra nha môn, dùng lý để dạy dân, vợ chồng ngươi đến đây cãi nhau lộn bậy, ta không giải quyết được việc nhà của ngươi ư? Các ngươi đâu, hãy mau sang phòng bên tra tấn vợ nó thật nặng cho ta.
Lính hầu lại dạ ran, chạy sang phòng bên hò hét, rồi sau đó nghe thấy tiếng dụng cụ tra tấn kêu loảng xoảng, tiếng quát thét và tiếng kêu van thảm thiết của Phùng thị.
Thi Công lén nhìn, thấy Đổng Lục cứ quay ra ngoài nhìn, dáng vẻ vô cùng thương xót. Thi Công nói:
- Đổng Lục, ngươi đừng thương tiếc con đàn bà độc ác ấy, cứ mặc nó chịu tra tấn, để sau này nó phải sợ, không dám đi kiện nữa. Bây giờ ta hỏi ngươi: trước đây ngươi có vợ không? Lấy Phùng thị được mấy năm rồi? Hiện có mấy đứa con? Cứ nói thật, ta sẽ ra ân cho ngươi.
Tên ác nhân thấy thế, nói:
- Xin ngài cho con nói, cha mẹ con đều qua đời, không có anh em ruột. Học nghề cắt tóc kiếm ăn, rối kết bạn với anh thợ may Hách Tài Phùng, nhà anh rất khá giả. Con đi lại chơi bời như người trong nhà, thân thiết như ruột thịt. Về sau chẳng may anh mắc bệnh chết. Vợ anh không có con cái, không anh em, một thân một mình, không có tiền chôn cất, thật đáng thương. Đáng mừng là Phùng thị là người hiền lành, tốt bụng, bán mình đi bước nữa lấy tiền chôn cất chồng. Song người mối nhắc đến tên con, thấy con chưa có vợ, nói rằng: "Bạn bè chẳng qua cũng là nghĩa khí, thôi thì nhất cử lưỡng tiện. Con nghĩ rằng anh Hách chết đi, cần tiền mai táng mà chị Phùng thị cũng có chỗ dựa. Người chết được yên ổn dưới suối vàng, mà người sống cũng có chỗ dựa suốt đời". Hôm ấy con mang trầu, rượu sính lễ đến. Lúc ấy con đau buồn, nửa tỉnh, nửa mê, không kịp nghĩ ra. Vừa được bảy ngày, đã thúc giục cô ấy về với con. Nay nghĩ tới anh Hách, con cảm thấy xấu hổ vô cùng. May mà vợ chồng hòa hợp, con đã lên bảy tuổi. Không ngờ vợ con điên cuồng, mê loạn kiện lên quan. Điều con nói đó là sự thực. Con tha thiết cầu mong ngài tha cho vợ con. Con rất cảm ơn ngài.
Anh ta khấu đầu lia lịa. Thi Công cười nhạt nói:
- Đổng Lục, nghĩ đến tình bạn bè, lại lấy vợ có mối mang đàng hoàng, thì vì sao phải hối hận. Việc này trên đời thường thấy. Ta hỏi ngươi, Hách Ngô Bằng mắc bệnh gì mà chết?
Thấy quan hỏi thế, Đổng Lục hồn xiêu phách lạc, bất giác trả lời:
- Thưa ngài, anh ấy có bệnh gì đâu, chỉ uống rượu mà chết thôi.
Thi Công cố ý cười ha hả, nói:
- Sao? Uống rượu mà chết được ư? - Thi Công hỏi tiếp. - Ngươi có uống rượu không?
Tên ác nhân thấy thế tưởng là quan lớn khen, bèn đáp:
- Con cũng biết uống rượu.
- Không biết tửu lượng của ngươi thế nào, uống được bao nhiêu? Uống nhiều có hại không?
- Con không giấu gì ngài, con cũng uống được tới mấy cân. - Tên ác nhân nói.
- Thế thì uống còn thua ta. - Thi Công nói. - Ngoài giờ làm việc, về phòng ta chỉ uống rượu làm vui. Ta có một thói xấu, thích nhất là dựa vào uống rượu để nhắm thức ăn, mà thích nhất là nhắm với gừng, nghĩ rằng nó có tính nóng vì có chất lửa.
Thấy thế tên ác nhân kêu lên:
- Bẩm quan lớn! Đừng có nhắm với gừng, rất độc.
Đó chính là oan hồn quả báo, oan hồn đã làm cho hắn rối loạn. Thi Công nghe hắn đã nói hé thấy mấy nguyên nhân, bèn nẩy ra ý nghĩ, cố ý hỏi:
- Ta không hiểu vì sao không thể ăn gừng và uống rượu cùng một lúc được? Nếu ngươi giải thích rõ ràng, biết được cái hại của nó thì ta sẽ không dùng nữa.
Thấy hỏi thế, tên ác nhân sợ run như cầy sấy, cứng họng không dám nói. Thi Công thấy vậy cười lạnh lùng mắng:
- Mày không khai, buộc ta phải tra tấn truy hỏi.
Rồi ông cho gọi Phùng thị tới đối chất. Lính hầu dạ ran. Thi Công lại hỏi tại sao gừng và rượu không được ăn uống cùng một lúc. Tên ác nhân không dám khai, cứ đứng ngây người ra, mặt tái nhợt. Thi Công đã biết rõ, cười ha hả. Thấy lính hầu đã dẫn Phùng thị quay ra, quỳ trước mặt. Thi Công nói:
- Phùng thị, ngươi hãy nói lại thật tỉ mỉ về cái chết của chồng mình. - Thi Công hỏi.
Phùng thị lại kể tỉ mỉ về cái chết của chồng mình. Thi Công hỏi:
- Đổng Lục, ngươi đã nghe rõ chưa? Chẳng trách nào vừa nói không được nhắm rượu với gừng, ngươi đã chột dạ. Ngươi phải khai ra việc ngươi làm người ta nát phổi, ngươi là thằng đáng chết, hãy khai ngay thì khỏi tra tấn.
Thấy hỏi như thế, tên ác nhân cứ cúi đầu vái lia lịa, nước mắt chảy ròng ròng, không biết làm thế nào khác được. Hắn nói:
- Con làm nghề, con không dám làm liều. Con lấy Phùng thị, có cưới xin tử tế, và cô ta cũng bằng lòng theo con. Nay cô ta kiện con là vô căn cứ. Nếu như dùng rượu và gừng làm nát phổi, để giết chết chồng cô thì tại sao trước đây cô không kiện. Ngậm miệng mấy chục năm trời, nay bỗng dưng kêu oan, nhưng chẳng có chứng cớ gì. Cô ta mắc bệnh điên nên cô đi kiện.
Thi Công thét lên, cho đến lúc này mà vẫn còn lấp liếm, chính mày đã nói nhắm rượu với gừng chết người. Trước đây khi Hách Ngộ Bằng còn sống, sáng sáng khi còn lòng không mày cũng cùng với Hách Ngộ Bằng uống rượu với gừng. Trong Bàn thảo còn ghi "phương thuốc dùng lục trầm bát để chống lại chất độc làm nát phổi khi uống rượu với gừng". Chắc rằng mày không hiểu được dược tính. Theo ta nghĩ, tất phải có kẻ chủ mưu, ta phải hỏi rõ sự thật rồi mới luận tội.
Sau đó ông gọi lính hầu mang dụng cụ tra tấn tới. Tất cả vâng lệnh, lôi Đổng Lục ngã sấp ngã dụi rồi kẹp vào hai chân. Tên ác nhân kêu cha kêu mẹ, hồn xiêu phách lạc. Lính hầu dội nước lạnh vào mặt, hắn mới tỉnh lại, kêu van thảm thiết. Thi Công hỏi:
- Nó có khai không?
- Nó không khai. - Lính hầu trả lời.
- Phùng thị, chồng ngươi không khai. - Thi Công hỏi. - Nếu như ngươi không khai thực thì ta tử hình ngươi.
- Con không kiện bừa. - Phùng thị nói. - Nếu con sai con xin chịu chết.
Thấy vậy Thi Công quát:
- Hãy tiếp tục kẹp hắn cho ta.
Tên ác nhân nghe thấy sợ hết vía, vội kêu lên:
- Con xin khai, con xin khai ạ.
Thi Công nói;
- Tưởng mày gan sắt, không sợ phép quan.
Thi Công bảo tháo kẹp ra, lôi Đổng Lục vào. Hắn quỳ xuống, khai rõ từ đầu chí cuối. Hắn đã kết bạn với Hách Ngộ Bằng, rồi thấy vợ Hách đẹp, hắn rắp tâm chiếm đoạt. Hắn dùng rượu với gừng giết chết Hách Ngộ Bằng để lấy Phùng thị... Thi Công nghe xong hỏi:
- Phương thuốc độc ngươi dùng lấy ở đâu? Kẻ nào chủ mưu, hãy khai ngay thì khỏi phải tra tấn.
Bọn lính hầu quát:
- Khai mau, nếu chậm, các ông sẽ dùng cực hình.
Tên ác nhân khiếp sợ kêu lên:
- Thưa ngài, con xin khai người truyền phương thuốc ấy. Vì con thấy gái đẹp mà mê muội, suốt ngày cứ như kẻ mất hồn, mẹ nuôi con thấy thế hỏi tại sao buồn rầu như thế? Con đã nói thực với mẹ con, bởi thế bà đã mách thang thuốc này cho con. Không ngờ, lúc con say đã lỡ lời nói với vợ Hách Ngộ Bằng. Con đáng chết, xin cầu mong ngài tha cho con.
Tên ác nhân đã khai ra sự thật, rồi hắn cúi xuống nhìn Phùng thị nói:
- Ngươi đã kiện ta, ngươi thử nghĩ xem. Ta với ngươi đã sinh con đẻ cái, sống với nhau bao nhiêu năm rồi. Ván đã đóng thuyền, chuyện đã xong. Ta dù có chết cũng không dứt ra được!
Phùng thị nghe xong tức run lên, chỉ vào mặt Đổng Lục mắng:
- Đồ lang sói mất hết tính người. Trước mặt ông lớn mày còn dám nói càn. Trước đây chồng tao bị mày lôi kéo, nếu không thì làm gì xảy ra chuyện này. Nay nhờ quan lớn sáng suốt phán xét như thần thánh. Đó chính là trời báo oán. Ngươi say rượu lỡ mồm tiết lộ cơ mưu, còn nói gì đến tình nghĩa vợ chồng nữa. Chúng ta đã đến lúc tận số rồi. - Phùng thị uất ức nói. - Ngươi đáng chết!
Nói xong Phùng thị xông vào cắn, đánh túi bụi vào người Đổng Lục, rồi chạy ra đập đầu vào cột hiên chết. Thi Công khen:
- Quả là một người đàn bà trinh tiết, đức hạnh.
Ông đùng đùng nổi giận quát mắng:
- Đổng Lục, ngươi đáng tội chết. Ngươi cùng với Vương Bà mưu giết người. Ta hỏi ngươi. Mẹ nuôi mày ở đâu, nói mau!
Tên ác nhân nghĩ, nếu không nói thì sẽ bị tra tấn, rồi hắn khai:
- Thưa ngài, Vương Bà ở phía nam miếu Quan Đế, Đông Nhai. Trước cửa có treo tấm biển "Đỡ đẻ".
Thi Công lập tức sai người bắt Vương Bà. Vương Bà tới quỳ trước công đường. Thấy Phùng thị đã tắt thở, lại thấy Đổng Lục bị tra tấn, bà vô cùng sợ hãi. Tên ác nhân vừa thấy Vương Bà, hắn reo lên:
- Cám ơn mẹ, phương thuốc mẹ bảo rất hiệu nghiệm!
Thi Công nghe thấy, quát:
- Nếu còn lắm lời ta sẽ vả vào mồm ngươi.
- Vương Bà! - ông quát tiếp. - Con nuôi ngươi đã khai ngươi đã truyền cho nó phương thuốc giết Hách Ngộ Bằng để chiếm Phùng thị. Có đúng thế không? Khai ra ngay thì khỏi phải chịu hình phạt.
- Con không làm việc ấy. - Vương Bà nói.
- Con mẹ này không kẹp thì nó không khai. - Thi Công nói.
Bọn lính hầu vâng lệnh, kẹp Vương bà. Vương Bà đau đớn không chịu nổi, kêu lên:
- Thưa quan lớn, đừng kẹp nữa, con xin khai.
- Hãy tháo kẹp ra! Nói mau!
- Bẩm quan lớn, - Vương Bà nói. - Khi chồng con còn sống, làm nghề thuốc nên con biết được phương thuốc này. Song con không dám nói với ai, xin quan lớn thương tình.
Nghe xong Thi Công bảo không tra khảo nữa. Lính hầu vâng lệnh tháo kẹp ra. Thi Công lấy bút ghi vào bản án: "Vương Bà trước đây thông dâm với Đổng Lục. Sau đó lại truyền phương thuốc độc cho Đổng Lục đầu độc Hách Ngộ Bằng để chiếm Phùng thị. Cháy nhà ra mặt chuột. Phùng thị tự tử. Theo luật, Vương Bà phải treo cổ, đến mùa thu sẽ hành quyết. Đổng Lục mưu gian, đầu độc Hách Ngộ Bằng để lấy Phùng thị, theo luật phải thẳng tay trừng trị". Phán quyết xong, bảo mang đóng dấu. Đổng Lục, Vương Bà bị tống vào nhà giam. Sau đó Thi Công cho gọi người nhà mẹ đẻ của Phùng thị mang thi thể về. Đúng lúc ấy có năm lạng bạc phạt của Lưu Vĩnh, Thi Công cho để mua quan tài chôn cất Phùng thị. Cho phép người nhà bán gia sản của Đổng Lục để nuôi dưỡng con hắn. Tất cả lạy tạ Thi Công rồi ra khỏi công đường. Ai ai cũng khen Thi Công là người tài giỏi. Thi Công bảo thư lại lập biên bản trình lên cấp trên.
Vừa xử xong, lại thấy Vương Nhân và Từ Mậu bước vào, quỳ trước công đường thưa rằng:
- Thưa ngài, hai chúng con đã mời Cửu Hoàng và Thất Chư tới, đang chờ ngoài cửa.
Thi Công nói:
- Hãy cho họ vào!
anh sex
truyen dam
phim sex hay
truyen sex hay
truyen lau xanh
truyen loan luan
truyen nguoi lon
truyen sex hoc sinh
Chương 6 (C)
Nghe xong người đàn bà ấy quay ra, quả thấy chồng đang quỳ ngoài ban công, cúi đầu không biết đang nhìn gì trong tay. Thấy vậy người đàn bà rất buồn.
Thi Công bảo sai nha:
- Ngươi ra đứng trước cửa, hỏi thật to xem Lưu Vĩnh có bạc hay không?
Sai nha ra cửa, cất tiếng gọi to:
- Lưu Vĩnh, quan lớn hỏi ngươi, còn bạc hay không?
Lưu Vĩnh cứ tưởng hỏi chữ "bạc" trên tay, đáp to:
- Còn bạc.
Sai nha vào bẩm:
- Thưa ông lớn, vừa giờ Lưu Vĩnh trả lời là còn bạc, không dám động tới.
Thi Công hỏi:
- Người đàn bà kia, ngươi có nghe thấy chồng ngươi trả lời: còn bạc vẫn chưa dám động tới, cho nên hắn bảo ta phải lệnh cho ngươi tới. Ta nghĩ rằng ở nhà ngươi nhất định có bạc. Ngươi không chịu nói thực, ta cũng không cần truy hỏi. Ngươi đã không nghĩ tới tình vợ chồng thì bản huyện cũng không thương dân, sẽ dùng hình phạt nặng nề để truy hỏi chồng ngươi, ngươi đừng có trách ta.
Vừa nói, quan huyện vừa nhìn. Thấy người đàn bà này có phần khiếp sợ. Thi Công lấy hết sức đập bàn đến rầm một cái, nghe váng cả tai, quát:
- Hãy mang kẹp loại lớn ra đây.
Bọn sai nha dạ ran, rồi chạy đi khệ nệ khiêng cùm, tới đặt trước công đường. Mang cùm đến cốt để dọa người đàn bà, Thi Công vẫn không cho cùm, mà lại quay sang nói với người thư lại đứng bên cạnh rằng:
- Các ngươi theo hầu ta, các ngươi biết ta dùng hình phạt nặng như thế nào rồi, phải mặt sắt, không chút thương tình. Ta chỉ thương những người buôn bán, vất vả kiếm được ít tiền nuôi vợ con. Nay nếu Lưu Vĩnh vào nha môn nhận bồi thường cho khách thì mọi việc sẽ dễ dàng, mà lại thể hiện đức tốt của ta. Ngờ đâu người đàn bà này đã không hiểu đạo lý, lại còn oán trách ta. Thị không nghĩ tới tình cảm vợ chồng, ta bất đắc dĩ phải dùng hình phạt.
anh sex
truyen dam
phim sex hay
truyen sex hay
truyen lau xanh
truyen loan luan
truyen nguoi lon
truyen sex hoc sinh
Người thư lại ấy hiểu được dụng ý của quan huyện, trả lời rằng:
- Ông lớn rất sáng suốt. Phải dùng hình phạt nặng mới khuất phục được dân tâm.
Thi Công lại nhìn sắc mặt của người đàn bà, thấy bộ mặt phấn son ấy cúi gằm xuống. Thi Công lại đập bàn rầm rầm, bảo sai nha bắt đầu cùm kẹp chồng chị. Thị sợ, mặt tái mét, khấu đầu lia lịa, nói:
- Xin quan lớn đừng cùm, con xin khai thực.
Thi Công mỉm cười, chỉ vào mặt thị nói:
- Hãy mau khai ra, nếu đúng ta sẽ không cùm kẹp chồng người.
Người đàn bà nói:
- Ở nhà có một gói bạc, chồng con bảo cất đi, con không biết là bao nhiêu, chồng con dặn không được phép nói với ai. Vừa rồi ngài truy hỏi, con không dám nói ra số bạc ấy. Ngài vừa hỏi, chồng con bảo còn bạc không động tới, con mới dám khai thật. Xin ngài rộng lòng thương, con xin tình nguyện nộp số tiền ấy cho quan, khẩn thiết mong quan lớn miễn hình phạt.
Nghe xong, Thi Công cười ha hả, truyền lệnh đưa Lưu Vĩnh vào xét hỏi. Lính hầu vội ra cửa công đường gọi:
- Lưu Vĩnh vào công đường cùng đối chất với vợ.
Nghe thấy Lưu Vĩnh rảo bước đi vào, tới nơi nhìn thấy vợ, bất chợt giật mình, biết rằng việc giấu bạc đã bại lộ, mặt hắn tái nhợt, quỳ xuống. Thi Công quát hỏi:
- Lưu Vĩnh, "bạc" có động tới gì không?
Thấy Thi Công hỏi, Lưu Vĩnh giơ tay lên, nói:
- "Bạc" vẫn còn.
Thi Công gật đầu, nói:
- Còn bạc là được rồi.
Còn Lưu Vĩnh nói với vợ:
- Sao bà không ở nhà, lại tới đây làm gì?
Ngô thị thấy chồng bực tức hỏi, thị mắng:
- Đồ vô lương tâm, ông còn mặt mũi nào mà hỏi tôi như thế! Tôi hỏi ông, ông là đàn ông, nợ công khoản, là chủ sự, trả hay không là do ông, sao lại nói với quan lệnh cho đàn bà tới xuất đầu lộ diện. Ông phải biết rằng, tôi còn mặt mũi nào mà gặp bạn bè. Hãy về lấy ngay tiền mà ông đưa cho tôi - tôi để ở chiếc va li da gác lên trần nhà, tới giao nộp khoản tiền công quỹ mong ngài tha đánh.
Ngô thị nói thế khiến Lưu Vĩnh sững người, trợn tròn mắt, cứng họng không sao nói được. Ngừng một lát, chẳng biết vì sao, Ngô thị lại giục:
- Sao không về ngay mà lấy đi, lẽ nào cứ ngồi ngây ra đấy mà trả được nợ à!
Thấy thế Lưu Vĩnh chửi toáng lên:
- Bà là con ngu xuẩn, ai bảo bà lắm lời!
Thấy việc của hắn đã bại lộ, Thi Công nổi giận quát:
- Vợ chồng ngươi còn cãi nhau nữa ư. Ta sẽ vả vỡ mồm các ngươi.
Lưu Vĩnh, Ngô thị sợ quá, cúi đầu không dám nói nữa.
Thi Công nổi giận quát:
- Lưu Vĩnh, ngươi đã giấu số bạc của ông ấy, ngươi là kẻ lừa dối. Song không ngờ, lẽ trời sáng tỏ, quỷ thần giám sát. Mày là kẻ đáng chết. Con người ta sống trong khoảng trời đất, phải trung hiếu tiết nghĩa, biết liêm sĩ, giữ niềm tin, kẻ trượng phu phải răn dạy vợ con, phải biết giữ mình, buôn bán giao dịch, phải công bằng, không lừa dối bất cứ ai, luôn ngay thẳng thì thần linh sẽ phù hộ độ trì, buôn bán mới phát đạt. Tâm địa hại người vừa nẩy sinh, thần Phật đều biết cả, các ngài im lặng mà biết rất rõ. Chu Hữu Tín vừa đổ bạc, ngươi muốn giấu đi, trời không dung tha. Lôi đến cửa quan, ngươi còn dám quanh co. Tang chứng không có, nếu ta không sáng suốt thì sao mà xử được vụ án này. Ngươi chỉ biết gian dối, chứ ngươi không biết ta phán đoán sự việc như thần thánh. Mới dùng một kế nhỏ ngươi đã mắc tròng. Lẽ ra ta phải xử tội nặng, song quan thấy ngươi ngu muội, phạt ngươi năm lạng bạc cho ngươi tự sửa lỗi lầm. Nếu còn điêu oa thì ta sẽ xử ngươi nặng hơn.
Thi Công lại nói với Điêu thị:
- Là đàn bà ngươi dám oán trách ta, này hãy nghe ta nói đây: chồng ngươi không phải nợ công quỹ, mà hắn đã đánh cắp bạc của người đổi bạc. Vì truy hỏi, chồng ngươi không chịu nhận, ta phải nghĩ ra mưu kế truyền lệnh gọi ngươi đến. Đầu tiên ngươi oán trách quan huyện không nên gọi ngươi tới đối chất, nay việc đã bại lộ, còn nói năng gì nữa không? Vì sao đàn bà mà cũng vô lương tâm, ám hại người. Ta nghĩ ngươi cũng là đàn bà, nên ta không phạt ngươi.
Ngô thị nghe quan nói, khấu đầu, vô cùng cảm ơn quan huyện.
Đứng bên cạnh Ngô Vĩnh sợ quá, mặt tái xanh tái xuất, khấu đầu nói:
- Bẩm quan lớn, con xin nguyện nộp phạt.
Thi Công thấy thế cười ha hả, nói:
- Hãy lôi Lưu Vĩnh ra, đánh cho hắn mười lăm gậy.
Thấy chồng bị đánh, Ngô thị lòng đau như cắt, không sao chịu nổi. Thi Công cho gọi Chu Tín vào, nói:
- Ngươi đánh mất số bạc là do sơ ý. Đồng tiền liền khúc ruột. Dù nói chuyện với cậu thì cũng phải thu lấy bạc. Nếu như bị bọn trộm xung quanh lấy đi thì khó lấy lại. May mà Lưu Vĩnh lừa dối lấy đi, đến nỗi cãi nhau, rồi đưa cửa quan. Nếu ta không tìm ra, ngươi sẽ trách móc ta là không sáng suốt, rồi sẽ bàn tán những lời bất nhã. Bây giờ thì bạc đã lấy lại, nhưng phải nói, ngươi cũng có lỗi trong việc này. Ta định phạt ngươi về thói lơ đễnh, nhưng ta tha cho ngươi. Từ nay phàm làm việc gì ngươi cũng phải cẩn thận.
Chu Hữu Tín khấu đầu tạ ơn. Thi Công lại nói với Lưu Vĩnh:
- Lưu Vĩnh, ngươi lương tâm mờ ám, ta đánh ngươi, lại phạt nặng. Số tiền ấy nhập vào công quỹ, cứu tế người nghèo để ngươi thấy đó mà sửa chữa lỗi lầm, và cũng chứng tỏ rằng, ngoài phép vua, còn có quỷ thần chứng giám.
Thi Công làm việc danh chánh ngôn thuận, không những Lưu Vĩnh cảm ơn, mà tất cả mọi người đều tâm phục khẩu phục. Thi Công cho người cùng đến hiệu đổi tiền, lấy bạc về giao cho Chu Hữu Tín, và lấy năm lạng bạc nhập vào công quỹ. Rồi quan huyện lại hỏi hai người rằng:
- Lời ta nói có đúng không?
- Dạ rất đúng ạ. - Hai người đáp.
- Đã biết thế thì ta tha tho cả hai người. - Thi Công nói.
Mọi người tạ ơn quan huyện. Sai nha lại cùng Lưu Vĩnh ra khỏi nha môn.
Thi Công sắp rời khỏi công đường, lại thấy có hai người từ cửa ngách bước tới hiên. Một người gánh đôi hòm cắt tóc đặt trước hiên rồi bước vào công đường quỳ xuống, ngước lên quan nói:
- Con đã giải Đổng Lục tới.
- Hãy gọi người đàn bà kia vào đây ta hỏi. - Thi Công nói.
Sai nha tuân lệnh bước ra khỏi công đường. Thi Công nhìn xuống, chú ý sắc mặt Đổng Lục, da thô nháp, mắt to, mũi cao, râu đuôi én, trạc trên dưới bốn mươi tuổi, mặt dữ tợn, hằm hằm giận dữ. Thi Công nhìn xong, hiểu ra ngay, hỏi:
- Ngươi tên gì? Hãy nói mau.
Thấy hỏi, người ấy cúi đầu nói:
- Thưa ngài, con là Đổng Lục, là con thứ sáu, đời đời sống tại Giang Châu. Con sống bằng nghề cắt tóc. Không biết vì sao quan lệnh cho con đến nha môn.
Thi Công nghe xong nói:
- Vợ ngươi tố cáo ngươi.
Thấy thế Đổng Lục giật thót mình, bèn thưa:
- Thưa ngài, vợ con là Phùng thị, mắc chứng bệnh điên đã hơn nửa năm nay. Không biết vì sao bà ấy lại kiện con, cúi mong ngài gọi bà ấy đến đây đối chất, xem bà ấy kiện con về cái gì!
Thi Công nói:
- Việc thị kiện ngươi, ta đã nghĩ từ lâu, nếu là vô lý thì: một là, thị lừa dối trời, mất hết luân thường đạo lý; hai là, thị mắc chứng điên. Bởi thế ta mới cho gọi ngươi tới đây đối chất xem thật giả thế nào.
Rồi Thi Công cho lính hầu khiêng cùm đến, sau đó giải Phùng thị vào quỳ một bên. Thấy vợ, Đổng Lục quát:
- Con đàn bà ngu xuẩn, có bệnh thì ở nhà mà chữa trị mới phải. Vì sao lại lên huyện cáo giác?
Phùng thị thấy chồng nói thế, tức run người, chửi:
- Sao trời không giết chết ngươi đi? Ngươi vẫn còn nói những điều điên rồ như thế ư? Hãy thôi đi, giờ đây ngươi là kẻ thù của ta.
Thi Công thấy thế quát thét:
- Các ngươi không được chửi càn. Trước hết ta cho Phùng thị nói. Ngươi mà cãi ta vả vỡ mồm.
Phùng thị khấu đầu thưa:
- Thưa ngài, nỗi oan ức của con đến gỗ đá nghe thấy cũng phải động lòng thương. Con đời đời sống ở Giang Đô, cha mẹ đều mất sớm, chị dâu gã con cho Quách Ngộ Bằng. Chồng con mở cửa hàng bán quần áo, vốn ham mê rượu chè. Là người thật thà hiền lành, chồng con đã giao du với tên bất nghĩa Đổng Lục này. Hắn là người sống bừa bãi. Khi chồng con còn sống, dẫn hắn về, thân thiết như người nhà. Ai ngờ tên này mặt người dạ thú, hắn để ý đến con, rồi ngấm ngầm toan tính kế bất lương. Từ đó trở đi họ uống rượu với nhau suốt ngày, không uống rượu với thức nhắm mà uống rượu với gừng. Không đầy mấy tháng sau, chồng con đổ bệnh, người sưng húp ho ra máu rồi chết. Thật khổ cho con, không có chú bác, anh em. Đang lúc trời nóng nực, thi thể chồng con vẫn còn nằm đó, con không biết làm sao, đành phải bước đi bước nữa, bán thân lấy mấy lạng bạc lo ma chay cho chồng. Đáng giận là, đang lúc tang gia bối rối, con không nghĩ ra, mà cũng chẳng còn lòng dạ đâu mà nghĩ, nên con đành phải nhắm mắt, đưa chân. Đi qua mấy chục nhà, rồi đến nhà hắn, thấy hắn mới biết là mình lấy Đổng Lục.
Phùng thị lại nói tiếp:
- Con đã bằng lòng, càng khó mà hối tiếc được, tiền con bán mình cho người ta đã tiêu rồi. Con đành phải ngậm oan, sống cho qua ngày đoạn tháng. Mấy mươi năm nay con sinh được hai đứa con. Ai ngờ lưới trời lồng lộng, thưa mà không để lọt việc báo ứng quả không sai. Hôm kia đứa ác ấy uống rượu say về, không biết thần xui quỷ khiến thế nào, nó đã thông thốc nói ra hết. Nó nói rằng: vì muốn chiếm con, nên nó đã dùng mưu kế, cho chồng con uống rượu với gừng làm nát phổi, không ai biết được. Chỉ trong vòng một trăm ngày đã giết chết chồng mày, chắc mày cũng không biết được, tình xưa nghĩa cũ mày có thương nó không. Nói xong nó ngủ thiếp đi. Nghe nói thế, con vô cùng đau đớn và căm giận. Con nghe người ta sinh ra trên đời này, đàn ông phải trung hiếu, đàn bà phải trinh tiết. Kẻ không biết nghĩa lý liêm sĩ thì khác nào chó lợn. Hiện con đang trong dinh của ngài lẽ nào vì liên quan đến con cái mà cứ để cho nước chảy bèo trôi. Nếu như vì tình con cái máu mủ thì không thể minh oan cho chồng được. Nay may mắn con báo được thù, con có nhắm mắt xuôi tay xuống dưới cửu tuyền cũng không ân hận. Con với thằng khốn nạn ấy, ân ái biến thành cừu thù Con chỉ có một nguyện vọng là mình minh oan cho chồng, thì dù bị dao đâm thành muôn vạn mảnh con cũng vui lòng.
Nghe Phùng thị nói, ai ai cũng xót thương. Đổng Lục bên cạnh vừa nghe thấy thế, cuống lên, bất chấp cả luật pháp, hắn phồng mang trợn má chửi Ngô thị:
- Con dâm phụ nói càng. Đúng là nó điên rồ rồi! ăn mặc chưa vừa ý mày thì mày cũng phải chịu vậy, tại sao trước mặt ngài mày dám nói bừa. Mày không nghĩ rằng thằng Đổng Lục này đã kéo cho mày bao nhiêu vòng, có phải là việc dễ đâu? Mày là con đàn bà chua ngoa, điên khùng. Mày kiện tao có chứng cứ gì không? May mà được ông lớn khoan dung, không trách mắng mày, để cho mày nói bậy.
Phùng thị giận tím mặt, chửi:
- Đồ chết giẫm, mày còn dám cãi bướng! Quỷ thần đã bắt mày tự nói ra, mày cho chồng tao uống rượu với gừng cho nát phổi, mày mưu hại chồng tao. Trước mặt quan mày vẫn không chịu nhận.
- Mày là con dâm ác chua ngoa! - Đổng Lục chửi. - Chồng mày chết không có tiền chôn, mày van xin tao lấy mày. Có mối lái cưới xin hẳn hoi, sinh con đẻ cái, sống với nhau mấy chục năm nay. Vì cơm ăn, áo mặc không đủ, mày mắc chứng điên, giả thành ma quỷ kiện cáo, đổ cho tao giết chồng mày để lấy mày. Có chứng cớ gì về việc tao hại chồng mày không? Hơn nữa mày biết tao là kẻ thù sao trước đây không đi kiện. Tao hỏi mày, vì sao mày lấy tao, rồi lại kiện tao?
Phùng thị giận run lên, không sao nói được. Thi Công đã hiểu, cố ý chau mày, quát mắng:
- Mày là con mụ chua ngoa, điên khùng! Mày không có lý gì để kiện chồng. Không biết thế nào là tam tòng tứ đức. Đã biết chồng chết oan, sao không minh oan từ sớm? Mày đã lấy người ta, rồi lại trở thành kẻ thù, chẳng phải mày đã đồng mưu hãm hại chồng sao? Sống với nhau đã mấy chục năm, nay lại đi kiện chồng! Ta cho rằng người chồng mới không làm vừa lòng mày, nên mày đi kiện. Người xưa nói: "Trái tim người đàn bà độc ác đỏ như mào hạc!".
Thế rồi ông bảo người hầu mang dụng cụ tra tấn ra, nói:
- Ta phải cho con đàn bà điêu oa này một trận, tha thứ cho mày thì sợ mày không hối cải, lại làm hại người khác. - Thi Công càng nói càng phẫn nộ, rồi hạ lệnh:
- Các ngươi đâu, hãy lôi con đàn bà độc ác này ra ngoài, đánh cho nó một trận.
Lính hầu dạ ran, rồi như quạ vồ gà con, họ hằm hằm lôi người đàn bà ra ngoài, mang theo hàng loạt dụng cụ tra tấn. Phùng thị sợ run như cầy sấy, cuống cuồng chết lặng đi, rồi sau đó gào lên, giọng khản đặc:
- Oan con quá! Oan con quá!
Bọn lính hầu dẫn người đàn bà ấy sang phòng bên. Một lát sau, người đàn bà ấy kêu gào thảm thiết như bị tra tấn. Trước khi gọi Đổng Lục, Thi Công đã dặn lính hầu đưa Phùng thị vào phòng bên, không được tra tấn, nhưng bảo Phùng thị cứ kêu rên như bị tra tấn. Lính hầu lại giả vờ làm cho dụng cụ tra tấn kêu loảng xoảng y như tra tấn thật. Tên ác nhân không biết, nghe thấy vợ kêu ran, đau xót không sao cầm lòng được. Hắn quỳ xuống rồi tiến lên nửa bước, nói:
- Bẩm quan lớn, cho phép con được thưa: vợ con có bệnh, xin ngài đừng phạt, để lại cho vợ con mười ngón tay, để may và kiếm sống. Con thấy phạt thế vợ con biết được lỗi lầm là được rồi.
Nghe xong Thi Công quát:
- Mày là thằng to gan, tao vả mồm mày bây giờ. Triều đình lập ra nha môn, dùng lý để dạy dân, vợ chồng ngươi đến đây cãi nhau lộn bậy, ta không giải quyết được việc nhà của ngươi ư? Các ngươi đâu, hãy mau sang phòng bên tra tấn vợ nó thật nặng cho ta.
Lính hầu lại dạ ran, chạy sang phòng bên hò hét, rồi sau đó nghe thấy tiếng dụng cụ tra tấn kêu loảng xoảng, tiếng quát thét và tiếng kêu van thảm thiết của Phùng thị.
Thi Công lén nhìn, thấy Đổng Lục cứ quay ra ngoài nhìn, dáng vẻ vô cùng thương xót. Thi Công nói:
- Đổng Lục, ngươi đừng thương tiếc con đàn bà độc ác ấy, cứ mặc nó chịu tra tấn, để sau này nó phải sợ, không dám đi kiện nữa. Bây giờ ta hỏi ngươi: trước đây ngươi có vợ không? Lấy Phùng thị được mấy năm rồi? Hiện có mấy đứa con? Cứ nói thật, ta sẽ ra ân cho ngươi.
Tên ác nhân thấy thế, nói:
- Xin ngài cho con nói, cha mẹ con đều qua đời, không có anh em ruột. Học nghề cắt tóc kiếm ăn, rối kết bạn với anh thợ may Hách Tài Phùng, nhà anh rất khá giả. Con đi lại chơi bời như người trong nhà, thân thiết như ruột thịt. Về sau chẳng may anh mắc bệnh chết. Vợ anh không có con cái, không anh em, một thân một mình, không có tiền chôn cất, thật đáng thương. Đáng mừng là Phùng thị là người hiền lành, tốt bụng, bán mình đi bước nữa lấy tiền chôn cất chồng. Song người mối nhắc đến tên con, thấy con chưa có vợ, nói rằng: "Bạn bè chẳng qua cũng là nghĩa khí, thôi thì nhất cử lưỡng tiện. Con nghĩ rằng anh Hách chết đi, cần tiền mai táng mà chị Phùng thị cũng có chỗ dựa. Người chết được yên ổn dưới suối vàng, mà người sống cũng có chỗ dựa suốt đời". Hôm ấy con mang trầu, rượu sính lễ đến. Lúc ấy con đau buồn, nửa tỉnh, nửa mê, không kịp nghĩ ra. Vừa được bảy ngày, đã thúc giục cô ấy về với con. Nay nghĩ tới anh Hách, con cảm thấy xấu hổ vô cùng. May mà vợ chồng hòa hợp, con đã lên bảy tuổi. Không ngờ vợ con điên cuồng, mê loạn kiện lên quan. Điều con nói đó là sự thực. Con tha thiết cầu mong ngài tha cho vợ con. Con rất cảm ơn ngài.
Anh ta khấu đầu lia lịa. Thi Công cười nhạt nói:
- Đổng Lục, nghĩ đến tình bạn bè, lại lấy vợ có mối mang đàng hoàng, thì vì sao phải hối hận. Việc này trên đời thường thấy. Ta hỏi ngươi, Hách Ngô Bằng mắc bệnh gì mà chết?
Thấy quan hỏi thế, Đổng Lục hồn xiêu phách lạc, bất giác trả lời:
- Thưa ngài, anh ấy có bệnh gì đâu, chỉ uống rượu mà chết thôi.
Thi Công cố ý cười ha hả, nói:
- Sao? Uống rượu mà chết được ư? - Thi Công hỏi tiếp. - Ngươi có uống rượu không?
Tên ác nhân thấy thế tưởng là quan lớn khen, bèn đáp:
- Con cũng biết uống rượu.
- Không biết tửu lượng của ngươi thế nào, uống được bao nhiêu? Uống nhiều có hại không?
- Con không giấu gì ngài, con cũng uống được tới mấy cân. - Tên ác nhân nói.
- Thế thì uống còn thua ta. - Thi Công nói. - Ngoài giờ làm việc, về phòng ta chỉ uống rượu làm vui. Ta có một thói xấu, thích nhất là dựa vào uống rượu để nhắm thức ăn, mà thích nhất là nhắm với gừng, nghĩ rằng nó có tính nóng vì có chất lửa.
Thấy thế tên ác nhân kêu lên:
- Bẩm quan lớn! Đừng có nhắm với gừng, rất độc.
Đó chính là oan hồn quả báo, oan hồn đã làm cho hắn rối loạn. Thi Công nghe hắn đã nói hé thấy mấy nguyên nhân, bèn nẩy ra ý nghĩ, cố ý hỏi:
- Ta không hiểu vì sao không thể ăn gừng và uống rượu cùng một lúc được? Nếu ngươi giải thích rõ ràng, biết được cái hại của nó thì ta sẽ không dùng nữa.
Thấy hỏi thế, tên ác nhân sợ run như cầy sấy, cứng họng không dám nói. Thi Công thấy vậy cười lạnh lùng mắng:
- Mày không khai, buộc ta phải tra tấn truy hỏi.
Rồi ông cho gọi Phùng thị tới đối chất. Lính hầu dạ ran. Thi Công lại hỏi tại sao gừng và rượu không được ăn uống cùng một lúc. Tên ác nhân không dám khai, cứ đứng ngây người ra, mặt tái nhợt. Thi Công đã biết rõ, cười ha hả. Thấy lính hầu đã dẫn Phùng thị quay ra, quỳ trước mặt. Thi Công nói:
- Phùng thị, ngươi hãy nói lại thật tỉ mỉ về cái chết của chồng mình. - Thi Công hỏi.
Phùng thị lại kể tỉ mỉ về cái chết của chồng mình. Thi Công hỏi:
- Đổng Lục, ngươi đã nghe rõ chưa? Chẳng trách nào vừa nói không được nhắm rượu với gừng, ngươi đã chột dạ. Ngươi phải khai ra việc ngươi làm người ta nát phổi, ngươi là thằng đáng chết, hãy khai ngay thì khỏi tra tấn.
Thấy hỏi như thế, tên ác nhân cứ cúi đầu vái lia lịa, nước mắt chảy ròng ròng, không biết làm thế nào khác được. Hắn nói:
- Con làm nghề, con không dám làm liều. Con lấy Phùng thị, có cưới xin tử tế, và cô ta cũng bằng lòng theo con. Nay cô ta kiện con là vô căn cứ. Nếu như dùng rượu và gừng làm nát phổi, để giết chết chồng cô thì tại sao trước đây cô không kiện. Ngậm miệng mấy chục năm trời, nay bỗng dưng kêu oan, nhưng chẳng có chứng cớ gì. Cô ta mắc bệnh điên nên cô đi kiện.
Thi Công thét lên, cho đến lúc này mà vẫn còn lấp liếm, chính mày đã nói nhắm rượu với gừng chết người. Trước đây khi Hách Ngộ Bằng còn sống, sáng sáng khi còn lòng không mày cũng cùng với Hách Ngộ Bằng uống rượu với gừng. Trong Bàn thảo còn ghi "phương thuốc dùng lục trầm bát để chống lại chất độc làm nát phổi khi uống rượu với gừng". Chắc rằng mày không hiểu được dược tính. Theo ta nghĩ, tất phải có kẻ chủ mưu, ta phải hỏi rõ sự thật rồi mới luận tội.
Sau đó ông gọi lính hầu mang dụng cụ tra tấn tới. Tất cả vâng lệnh, lôi Đổng Lục ngã sấp ngã dụi rồi kẹp vào hai chân. Tên ác nhân kêu cha kêu mẹ, hồn xiêu phách lạc. Lính hầu dội nước lạnh vào mặt, hắn mới tỉnh lại, kêu van thảm thiết. Thi Công hỏi:
- Nó có khai không?
- Nó không khai. - Lính hầu trả lời.
- Phùng thị, chồng ngươi không khai. - Thi Công hỏi. - Nếu như ngươi không khai thực thì ta tử hình ngươi.
- Con không kiện bừa. - Phùng thị nói. - Nếu con sai con xin chịu chết.
Thấy vậy Thi Công quát:
- Hãy tiếp tục kẹp hắn cho ta.
Tên ác nhân nghe thấy sợ hết vía, vội kêu lên:
- Con xin khai, con xin khai ạ.
Thi Công nói;
- Tưởng mày gan sắt, không sợ phép quan.
Thi Công bảo tháo kẹp ra, lôi Đổng Lục vào. Hắn quỳ xuống, khai rõ từ đầu chí cuối. Hắn đã kết bạn với Hách Ngộ Bằng, rồi thấy vợ Hách đẹp, hắn rắp tâm chiếm đoạt. Hắn dùng rượu với gừng giết chết Hách Ngộ Bằng để lấy Phùng thị... Thi Công nghe xong hỏi:
- Phương thuốc độc ngươi dùng lấy ở đâu? Kẻ nào chủ mưu, hãy khai ngay thì khỏi phải tra tấn.
Bọn lính hầu quát:
- Khai mau, nếu chậm, các ông sẽ dùng cực hình.
Tên ác nhân khiếp sợ kêu lên:
- Thưa ngài, con xin khai người truyền phương thuốc ấy. Vì con thấy gái đẹp mà mê muội, suốt ngày cứ như kẻ mất hồn, mẹ nuôi con thấy thế hỏi tại sao buồn rầu như thế? Con đã nói thực với mẹ con, bởi thế bà đã mách thang thuốc này cho con. Không ngờ, lúc con say đã lỡ lời nói với vợ Hách Ngộ Bằng. Con đáng chết, xin cầu mong ngài tha cho con.
Tên ác nhân đã khai ra sự thật, rồi hắn cúi xuống nhìn Phùng thị nói:
- Ngươi đã kiện ta, ngươi thử nghĩ xem. Ta với ngươi đã sinh con đẻ cái, sống với nhau bao nhiêu năm rồi. Ván đã đóng thuyền, chuyện đã xong. Ta dù có chết cũng không dứt ra được!
Phùng thị nghe xong tức run lên, chỉ vào mặt Đổng Lục mắng:
- Đồ lang sói mất hết tính người. Trước mặt ông lớn mày còn dám nói càn. Trước đây chồng tao bị mày lôi kéo, nếu không thì làm gì xảy ra chuyện này. Nay nhờ quan lớn sáng suốt phán xét như thần thánh. Đó chính là trời báo oán. Ngươi say rượu lỡ mồm tiết lộ cơ mưu, còn nói gì đến tình nghĩa vợ chồng nữa. Chúng ta đã đến lúc tận số rồi. - Phùng thị uất ức nói. - Ngươi đáng chết!
Nói xong Phùng thị xông vào cắn, đánh túi bụi vào người Đổng Lục, rồi chạy ra đập đầu vào cột hiên chết. Thi Công khen:
- Quả là một người đàn bà trinh tiết, đức hạnh.
Ông đùng đùng nổi giận quát mắng:
- Đổng Lục, ngươi đáng tội chết. Ngươi cùng với Vương Bà mưu giết người. Ta hỏi ngươi. Mẹ nuôi mày ở đâu, nói mau!
Tên ác nhân nghĩ, nếu không nói thì sẽ bị tra tấn, rồi hắn khai:
- Thưa ngài, Vương Bà ở phía nam miếu Quan Đế, Đông Nhai. Trước cửa có treo tấm biển "Đỡ đẻ".
Thi Công lập tức sai người bắt Vương Bà. Vương Bà tới quỳ trước công đường. Thấy Phùng thị đã tắt thở, lại thấy Đổng Lục bị tra tấn, bà vô cùng sợ hãi. Tên ác nhân vừa thấy Vương Bà, hắn reo lên:
- Cám ơn mẹ, phương thuốc mẹ bảo rất hiệu nghiệm!
Thi Công nghe thấy, quát:
- Nếu còn lắm lời ta sẽ vả vào mồm ngươi.
- Vương Bà! - ông quát tiếp. - Con nuôi ngươi đã khai ngươi đã truyền cho nó phương thuốc giết Hách Ngộ Bằng để chiếm Phùng thị. Có đúng thế không? Khai ra ngay thì khỏi phải chịu hình phạt.
- Con không làm việc ấy. - Vương Bà nói.
- Con mẹ này không kẹp thì nó không khai. - Thi Công nói.
Bọn lính hầu vâng lệnh, kẹp Vương bà. Vương Bà đau đớn không chịu nổi, kêu lên:
- Thưa quan lớn, đừng kẹp nữa, con xin khai.
- Hãy tháo kẹp ra! Nói mau!
- Bẩm quan lớn, - Vương Bà nói. - Khi chồng con còn sống, làm nghề thuốc nên con biết được phương thuốc này. Song con không dám nói với ai, xin quan lớn thương tình.
Nghe xong Thi Công bảo không tra khảo nữa. Lính hầu vâng lệnh tháo kẹp ra. Thi Công lấy bút ghi vào bản án: "Vương Bà trước đây thông dâm với Đổng Lục. Sau đó lại truyền phương thuốc độc cho Đổng Lục đầu độc Hách Ngộ Bằng để chiếm Phùng thị. Cháy nhà ra mặt chuột. Phùng thị tự tử. Theo luật, Vương Bà phải treo cổ, đến mùa thu sẽ hành quyết. Đổng Lục mưu gian, đầu độc Hách Ngộ Bằng để lấy Phùng thị, theo luật phải thẳng tay trừng trị". Phán quyết xong, bảo mang đóng dấu. Đổng Lục, Vương Bà bị tống vào nhà giam. Sau đó Thi Công cho gọi người nhà mẹ đẻ của Phùng thị mang thi thể về. Đúng lúc ấy có năm lạng bạc phạt của Lưu Vĩnh, Thi Công cho để mua quan tài chôn cất Phùng thị. Cho phép người nhà bán gia sản của Đổng Lục để nuôi dưỡng con hắn. Tất cả lạy tạ Thi Công rồi ra khỏi công đường. Ai ai cũng khen Thi Công là người tài giỏi. Thi Công bảo thư lại lập biên bản trình lên cấp trên.
Vừa xử xong, lại thấy Vương Nhân và Từ Mậu bước vào, quỳ trước công đường thưa rằng:
- Thưa ngài, hai chúng con đã mời Cửu Hoàng và Thất Chư tới, đang chờ ngoài cửa.
Thi Công nói:
- Hãy cho họ vào!
anh sex
truyen dam
phim sex hay
truyen sex hay
truyen lau xanh
truyen loan luan
truyen nguoi lon
truyen sex hoc sinh
Đoán Án Kỳ Quan Tập 2 1 - 11-8
Trang 8 trong tổng số 20
Chương 6 (B)
Thấy trời đã muộn, Công Nhiên bảo Tử Nhân tìm chỗ nào ăn cơm, nay đã biết được tin thực rồi, hãy về nha môn ngay. Tử Nhân đáp:
- Chúng ta đi về thôi, về thành bẩm báo với ông lớn, kết thúc nhanh vụ án này. Đây cũng là công lao lớn của chúng ta.
Nói xong, lòng họ tràn đầy vui sướng ra về.
anh sex
truyen dam
phim sex hay
truyen sex hay
truyen lau xanh
truyen loan luan
truyen nguoi lon
truyen sex hoc sinh
Thi Công từ cửa hàng ăn đi ra, đi theo người đàn bà, dò la về nguyên nhân bà đi kiện. Song thật uổng công, chẳng biết được gì thêm. Thấy trời còn sớm, về nha môn không tiện, ông nghĩ: "Sao ta không vào thành dò la xem sao, khi nào trời tối mới về nha môn...". Thế rồi ông rảo bước vào thành, thì gặp hai viên sai nha hớn hở đi tới. Từ xa Thi Công đã nhìn thấy hai người giả ăn mày, tự nhiên ông thấy thương họ: "Thôi hãy tránh vào một chỗ cho họ đi qua". Không ngờ hai người cũng đã nhìn thấy ông, bám theo ngay. Thi Công vào miếu, hai người cũng theo gót bước vào. Thi Công ngồi trên thềm, thấy không có ai, hai người vội bước tới, quỳ xuống nói:
- Bẩm ông lớn, bọn chúng con vâng lệnh ông, đã dò tìm được Cửu Hoàng và Thất Chư, hiện chúng đang ở chùa Liên Hoa. Chúng con còn dò biết Thất Chư là em nuôi của Cửu Hoàng, người Tô Châu. Trước đây họ gian dâm với nhau, rồi đưa nhau tới đây.
Nghe thấy thế, Thi Công đang buồn bỗng vui hẳn lên. Rồi ông hỏi:
- Vì sao lại gọi là Cửu Hoàng và Thất Chư?
Hai người nói:
- Hai đồ đệ của họ đã nói với chúng con, vì sau lưng sư phụ có chín mụn cơm bằng hạt đậu nên gọi là Cửu Hoàng. Còn trước ngực ni cô có bảy nốt ruồi đen, nên gọi là Thất Chư. Trong miếu còn có mười hai tên đầu gấu, hắn làm bất kể việc gì.
Nghe xong Thi Công trầm ngâm một hồi rồi lâu rồi nói:
- Trời đã muộn, hai người theo ta vào thành. Tối nay các người đến đường Chữ Thập theo dõi hành tung của tên ác tăng và ni cô dâm đãng ấy.
Nói xong đứng dậy. Hai người theo ông vào thành. Họ thấy đám đông bàn tán ồn ào. Có người nói:
- Quan huyện này tốt hơn quan huyện trước.
- Đừng có nhẹ dạ mà tin bọn nha dịch. - Có người nói thế.
- Tự mình đi dò la, thì ông quả là con người yêu thương dân.
Có người nói:
- Quan huyện thật là một người thanh liêm.
Trong đó có một người kêu lên:
- Các ông có im mồm hay không, đừng có nói càn. Cẩn thận không quan huyện nghe thấy thì no đòn.
Vì vụ án chưa xét xử được, Thi Công trà trộn trong đám đông nghe ngóng người dân bàn tán. Ngẩng đầu lên Thi Công thấy ánh đèn, người ồn ào chen lấn, nói:
- Đến rồi! Đến rồi!
Thi Công đang đứng trong đám đông, thấy một lễ đài - đài dựng đối diện với cửa am Quan âm - đài kết hoa bằng các tấm the màu, đèn lồng treo la liệt. Chính diện dựng một chiếc bục, một hòa thượng đang ngồi chễm chệ, mắt to, lông mày rậm, đầu đội mũ Phật, mình mặc áo hồng, mồm đọc kinh, tay bắt quyết. Những sư khác ngồi hai bên, nhìn kỹ thì không phải chỉ có sư nam, mà có cả sư nữ, họ ngồi bên đọc họa theo. Tuổi họ đều trạc trên dưới ba mươi. Vào tiết rằm tháng Bảy, trời vẫn oi bức nên người nào cũng đầu trần, mặc áo choàng qua vai, tuy nói là đọc theo, song trong đó có một người vẫn mặt mày hớn hở, liếc mắt đưa tình với gã sư dữ tợn. Cô ta cứ nghiêng nghiêng ngó ngó liếc ngang liếc dọc, Thi Công quay lại nhìn xuống dưới lễ đài. Ở chính giữa đặt một chiếc bàn cao, hai bên là hai chiếc ghế dài, mỗi bên có chín ni cô, cả thảy mười tám người đều mặc áo cà sa, đầu trần, đánh chuông gõ mõ. Họ đều trạc trên dưới hai mươi tuổi, cô nào cũng có vẻ lả lướt, lẳng lơ. Tuy không son phấn, nhưng đều răng trắng má hồng, trông tựa đào hoa. Họ đánh chuông gõ mõ, mồm niệm Phật, nhưng lại cứ nhìn trước ngó sau, mặt tươi như hoa sen chớm nở, chẳng có chút dáng dấp một người tu hành.
Thi Công xem xong, lặng lẽ gật đầu. Như thế chẳng trách nào chúng làm loạn Giang Đô. Vị ngồi chính giữa chính là Cửu Hoàng, còn trong đám ni cô không biết ai là Thất Chư. Nhìn kỹ người ngồi đầu bàn là một sư nữ trông rất lẳng lơ và là người xinh đẹp nhất, cô ta cũng đánh chuông gõ trống. Xem xong, Thi Công nói thầm: "Chẳng trách khiến lòng sư rối loạn!". Nghe xong ba hồi chuông trống, đã vào lúc canh hai, của bố thí cũng phát hết, dân chúng tản mát ra về. Thi Công nói với hai nha lệ:
- Duyên do Cửu Hoàng Thất Chư ta đã hiểu hết rồi. Ngày mai các anh không phải đến nha môn nữa, hãy trở lại chùa Liên Hoa, phải hết sức cẩn thận, dụ dỗ hai chú tiểu, hỏi cặn kẻ tình hình, và gốc gác họ tên của mười hai tên đạo tặc, rồi về nha môn báo lại, để ta định ra kế hoạch bắt chúng.
Hai người vâng lệnh, còn Thi Công nhân lúc đêm tối trở về nha môn.
Thi An đón Thi Công vào phòng, tắm rửa, thay quần áo. Cơm nước xong ông lên giường ngủ một mạch tới sáng hôm sau. Khi trở dậy rửa mặt, thay quần áo xong, ông bèn sai người đánh trống mở công đường. Thi Công ngồi oai vệ ở giữa, nha lệ đứng xếp hàng hai bên. Rồi với tay lấy hai tờ lệnh, gọi Vương Nhân và Từ Mậu. Hai người dạ ran, tiến đến trước mặt quỳ xuống. Thi Công nói:
- Ngươi hãy đến am Quan âm tại đường Chữ Thập mời ni cô Thất Chư, và đến chùa Liên Hoa ở ngoại thành mời Cửu Hoàng tới đây cho ta. Bản huyện muốn mời họ lập đàn cầu phúc.
Hai người vâng lệnh rời khỏi công đường.
Sau đó Thi Công lại quay xuống dưới bảo: đi mời Chấn Thủ phủ, và cử một số sai nhân chuẩn bị sẵn sàng.
Vương Nhân và Từ Mậu đi mời Cửu Hoàng và Thất Chư. Hai người cùng đi một đường, nên vừa đi vừa nói chuyện về quan huyện, thoáng một cái đã đến am Quan âm. Một người vào am. Thất Chư là một ni cô dâm đãng, đang trong am say sưa nghĩ tới cuộc làm tình mê đắm với hòa thượng Cửu Hoàng, bỗng nghe thấy tiếng chân bước, giật mình nghĩ: "Không biết ai thế? Chắc là thí chủ đến dâng hương". Thế rồi ni cô lên tiếng gọi:
- Tiểu ni cô.
Nghe thấy tiếng thưa, rồi tiểu ni cô bước vào, tươi cười nói:
- Thưa sư phụ, có việc gì cần sai bảo tiểu đệ!
Thấy ni cô hỏi, dâm ni cô nói:
- Ngươi hãy mau ra ngoài, xem có ai đến!
Tiểu ni cô vâng lời, vội chạy ra xem, thấy hai người đi tới, bèn hỏi:
- Hai ông từ đâu tới? Đây là nơi ở của sư nữ, sao các ông cứ sồng sộc vào như thế!
Hai nha sai thấy thế nói:
- Chúng tôi từ huyện đường tới. Ngươi hãy vào nói với sư thầy chúng tôi vâng lệnh quan huyện đến mời Thất Chư Cô Cô tới ngay nha môn lập đàn tràng cầu phúc.
Ni cô nhỏ nghe thấy thế, nói:
- A! Hóa ra các ông là sai nha. Xin các ông chờ một chút, tôi sẽ vào báo với sư thầy, rồi sẽ trở lại thưa với các ông sau.
Nói xong tiểu ni cô quay vào phòng , nói lại với Thất Chư. Nghe xong Thất Chư thấy khó hiểu, nói:
- Quan huyện mời ta hành lễ ư?
Rồi ni cô Thất Chư nghĩ: "Thi Công hoàn toàn không quan hệ với ta. Gần đây nghe thấy những chủ trại đã gây ra nhiều án mạng, ông ta đã biết rồi chăng? Nếu không đi thì với danh nghĩa là quan huyện, ông ấy sẽ trị cho. Nếu đi e rằng bất lợi". Ngẫm nghĩ một lát, Thất Chư chợt nghĩ ra một kế, thầm nghĩ: "Được rồi! Sao ta không lôi kéo dụ dỗ ông ta", rồi bảo ni cô nhỏ :
- Ngươi hãy ra mời họ vào đây gặp ta.
Tiểu ni cô nghe theo, ra mời hai vị sai nha vào phòng.
Thất Chư liếc mắt nhìn, hai sai nha áo mũ nai nịt, gậy gộc lỉnh kỉnh, tướng mạo như cú vọ. Thất Chư ngán ngẩm đành phải hỏi:
- Quan sai các ông tới đây có việc gì?
Ni cô dâng trà. Hai người nhìn thấy bủn rủn cả chân tay, hồn vía lên mây, dục vọng khó kìm. Ai ai cũng đồn rằng Thất Chư tuyệt đẹp, nay nhìn thấy mới biết lời đồn của quả không ngoa. Dâm ni cô hỏi họ tên hai người quan sai nha. Hai người nói:
- Chúng tôi vâng lệnh quan huyện tới đây mời sư thầy tới nha môn, thiết lập đàn tràng cầu mong phúc lành. Quan huyện phải mời bằng được sư thầy cùng đi với chúng tôi tới huyện đường là tốt nhất.
Nói xong nghẹo đầu nghẹo cổ tỏ vẻ lo lắng, nhưng lại cứ dán mắt nhìn ni cô. Thất Chư thấy vậy chửi thầm hai sai nha: "Đồ mặt dày đáng ghét, nếu không có phép vua thì lập tức đầu các ngươi sẽ rơi xuống đất. Không biết hôm nay Thi Công cho người tới mời là việc lành hay việc dữ, điều ấy khó mà đoán được. Ta nghĩ rằng, sinh mạng trong thành bị chết rất nhiều, hay ông đã đánh hơi thấy, chẳng sao mà biết được nữa. Nếu ông chưa biết được động tĩnh mà không đi thì càng bất lợi...". Trầm ngâm hồi lâu, Thất Chư quyết: "Nghĩ tới làm gì, thôi thì ta cứ tới xem sao. Dù có biển động thì bên ngoài đã có anh Cửu Hoàng và các chủ trại, hơn nữa, mình lại có thuật bay lên mái hiên, nhảy qua tường, lên ngựa múa đao thì sợ gì! Tức khí ta lên ngựa tới ngay Giang Đô, ra tay để chúng kinh hoàng. Gặp thì gặp, ngại gì". Nghĩ xong ni cô giả vờ tươi cười, nói:
- Thưa hai ông, có phải chỉ mời mình tôi hay còn mời ai khác tới huyện.
Từ Mậu nói:
- Có mời cả sư phụ Cửu Hoàng ở chùa Liên Hoa Cửa Bắc. Đi thôi quan huyện đang chờ chúng ta.
Thất Chư cười nói:
- Quan sai hãy nán lại một chút, chờ tôi thay quần áo cùng đi. Hai sai nghe thấy ni cô nói là cùng đi, họ rất mừng. Thất Chư thay quần áo mới trở ra. Hai sai nha thấy từ ni cô thoang thoảng tỏa ra mùi hương hoa lan. Họ nhìn kỹ, thấy ni cô thật đáng yêu, một lời không sao lột tả hết, khiến lòng họ cứ rạo rực, khó mà kìm nén nổi, và cảm thấy thèm khát vô cùng. Họ nói:
- Đi mau lên!
Thất Chư ra khỏi phòng, bảo tiểu ni cô đóng cửa. Tiểu ni cô nói:
- Con ra đây ạ!
Ni cô đi trước, hai sai nha theo sau, cùng ra khỏi am.
Từ Mậu cùng với Thất Chư trở về nha môn, bảo Vương Nhân ra khỏi thành đi mời hòa thượng Cửu Hoàng. Vương Nhân nhận lời đi ngay, không dám chần chừ. Ra khỏi cửa Bắc, chẳng còn lòng dạ nào nhìn quang cảnh quanh chùa, vội đi vào cửa ngách. Đang đi thì thấy Công Nhiên và Tử Nhân, Vương Nhân chợt giật mình. Hai người này đóng giả ăn mày đang quét dọn sân sau chùa. Vương Nhân buồn rầu định tới nói chuyện. Thấy Công Nhiên xua xua tay, Tử Nhân lắc đầu đau mắt. Họ sợ có người nhìn thấy, biết được cơ mưu, làm lộ tin tức. Vương Nhân nhanh trí gật đầu đi ra ngoài: Rất mừng là trong chùa không có ai nhìn thấy. Ba người lần lượt ra khỏi chùa, tới chỗ vắng, họ thuật cho nhau nghe về công việc của mình. Vương Nhân nói:
- Tôi được lệnh tới đây mời Cửu Hoàng về huyện đường.
Nghe thấy thế Công Nhiên và Tử Nhân giật thót mình, nói:
- Em hãy về ngay, mời Cửu Hoàng hoàn toàn không được đâu.
- Xin mong hai anh chỉ bảo. - Vương Nhân nói. - Em phải làm cách nào mới mời được Cửu Hoàng?
- Em ạ! - Công Nhiên nói. - Tên ác tăng này rất nguy hiểm, một đao hai gậy có thể đi trên không, vượt qua lầu gác như đi dưới đất bằng. Hiện ở đây đang tụ tập rất nhiều bọn cường đạo, đứa nào cũng võ nghệ cao cường, địch nổi hàng vạn người.
Nghe Công Nhiên nói, Vương Nhân cười nói:
- Anh không nên dọa tôi! Tôi đi lại cửa Lục Phiến, nếu không có bản lĩnh thì tôi làm sao dám xin vào làm việc ở cửa quan? Nay điều cốt yếu là phải mời cho bằng được hòa thượng Cửu Hoàng. - Rồi anh nói tiếp. - Chỉ có như thế thì mới gọi hắn đi được, xin hai anh cứ yên tâm.
Nói xong Trương và Anh đứng dậy vào chùa trước, lát sau Vương Nhân mạnh dạn bước vào chùa, gọi to:
- Chùa có ai không?
Thấy có một gã sư bước ra hỏi Vương Nhân:
- Ông từ đâu tới đây? Tới đây có việc gì? Hình như ông là sai nha của huyện phải không? - Gã sư ấy cười nói. - Xin mời ông vào phòng uống nước.
Vương Nhân theo sư vào chùa. Để họ mời trà xong, Vương Nhân nói:
- Nếu không có việc, thì tôi cũng chẳng tới đây làm gì. Tôi được lệnh của quan huyện, mời sư phụ Cửu Hoàng đến huyện lập đàn cầu phúc.
Sư nghe xong, cười nói:
- Xin ông ngồi chờ một chút, tôi vào thưa với hòa thượng trụ trì, rồi sẽ ra thưa lại với ông.
Nói xong người sư ấy đi vào, đến một phòng bí mật. Hòa thượng Cửu Hoàng đang chén chú chén anh với mười hai tên cướp, bỗng ngẩng đầu hỏi chú tiểu:
- Sao không ở ngoài canh cửa? Mày vào đây làm gì?
Chú tiểu nói lại lời Vương Nhân với Cửu Hoàng. Cửu Hoàng có phần bực bội, không vui nói:
- Mày bảo với nó là lát nữa ta ra gặp.
Chú tiểu vâng lời, ra khỏi phòng bí mật, gặp Vương Nhân nói:
- Sư phụ tôi sắp ra đấy.
Gã ác tăng nghe sai nha tới mời mình, nhìn bọn cướp nói:
- Các vị trại chủ, theo tôi nghĩ, Thi Bất Toàn sai người tới mời không biết là có ý tốt hay ý xấu. Chúng ta phải bàn xem, thì mới bảo toàn vô sự. Hơn nữa, nghe nói, lão ta có nhiều mưu ma chước quỷ, là con cáo lừa dối. Sợ rằng tới công đường sẽ bất lợi.
Thấy hỏi thế, bọn cướp nói:
- Tuy là những việc các ông làm rất ghê, song chúng tôi cho rằng có to gan đến mấy, chúng cũng không dám đụng tới ông. Bọn quan viên văn võ ở Giang Đô có gì đáng sợ. Nếu dứt dây động rừng, chiến mã tung ra sẽ làm cỏ cả Giang Đô này. Xin ông cứ đi gặp, ngại gì. Tùy cơ ứng biến, xúc cảnh sinh tình. Nếu lập đàn tràng thì ông cứ đọc kinh niệm Phật, chúng tôi sẽ đi lại bên ngoài nghe ngóng, hẹn trước với nhau thì còn sợ kẻ nào nữa? Hơn nữa ông anh có thuật bay lên hiên, vượt qua tường. Nếu có gì bất trắc, bọn em ở đây, tất cả sẽ ào đến, giết quan cướp kho, chém hết bọn chúng, thành này sẽ ra nước. Xong đâu đấy, chúng ta sẽ lên núi cao, quân quan làm gì nổi ta!
Tên ác tăng nghe thế rất mừng, nói:
- Các anh nói có lý. Các anh cứ ở đây, tôi đi trước xem thế nào. Nếu như chúng biết điều, cung kính thì ta sẽ nhận lời còn như kiêu căng ta đây là nha lệ, thì chúng sẽ biết tay ta.
Nói xong tên ác tăng đứng dậy, lảo đảo bước ra, quát tháo:
- Đứa nào mời ta đi cúng Phật? Ông Cửu này không cần tiền.
Thấy Cửu Hoàng hung ác, Vương Nhân nghĩ bụng: "Đúng như hai người nói, ta phải thận trọng mới được".
Vương Nhân thấy thế hỏi chú tiểu:
- Đây là sư trụ trì của chú ư?
- Vâng! - Chú tiểu đáp.
Vương Nhân thấy bực, vội tới chỗ ác tăng. Cửu Hoàng mắt lim dim, mùi rượu sặc sụa. Vương Nhân nhanh trí đến bên Cửu Hoàng vui vẻ hỏi:
- Xin kính chào đại sư phụ! Đại sư phụ có khỏe không?
Tuy uống nhiều rượu, nhưng Cửu Hoàng vẫn tỉnh táo, thấy sai nha chào mình, hắn mở mắt ra, đáp:
- Khỏe, còn ngươi thế nào?
Vương Nhân chửi thầm: "Một thằng côn đồ giở thói lưu manh. Thật đáng ghét". - Rồi lại nghĩ.- "Phải kìm nén, vì mình đến cầu nó, không được tỏ ra tức giận". Đành đáp:
- Con đâu xứng đáng được ngài hỏi thăm.
Gã ác tăng liếc mắt nhìn, nói:
- Anh là sai nha của huyện ư?
- Vâng ạ - Vương Nhân đáp. - Con được ngài quan huyện sai đến mời ngài tới huyện lập đàn tràng cầu phúc. Cho nên con mới dám tới làm phiền quý chùa.
Nghe nói thế, gã ác tăng không vui, nói:
- Anh bạn, anh ghê thật? Anh coi thường ta quá. Ta thiếu gì tiền, cần gì đến tiền đi cúng. Hãy về nói với ông lớn của anh, ta không đi.
Thấy thế Vương Nhân lo lắng. Làm thế nào bây giờ, thôi thì cứ chịu nhún với hắn xem sao. Bỗng ác tăng cười nhạt nói:
- Vô lý! Trong huyện Giang Đô, ngoài ông Cửu Hoàng này ra, lẽ nào hòa thượng chết hết cả rồi? Không phải ông Cửu Hoàng nói khoác, ngay đến ông trời mời, ta cũng không đi, huống hồ là Thi Bất Toàn, ông ta chỉ là một người thường thôi.
Nghe thấy thế Vương Nhân vội nhún mình cười nói:
- Ông lớn! Đừng nổi nóng! Ông lớn không đi thì con chết. Con về biết nói thế nào với quan huyện con. Nếu quan lớn không thương con thì con về quan huyện sẽ đánh chết tươi! Ông lớn là đệ tử của Phật, chỗ nào mà ông lớn không mở rộng từ bi, đó chẳng phải ông lớn làm điều thiện ư? Ông lớn hãy thương cho thân phận sai nha khổ sở này. Con cắn rơm, cắn cỏ van xin ông hãy cứu con. Xin ông lớn hãy lên xe Phật tới huyện thì con mới sống được.
Gã ác tăng ngồi trên ghế, đang giận dữ, nghe thấy sai nha một điều ông lớn, hai điều ông lớn, nói những lời xu nịnh, gã ác tăng thấy thế mỉm cười, chửi:
- Thằng bẻm mép, mày nói khiến ta không còn cách nào khác. Được rồi! Nếu ông lớn không thương mày, thì mày khổ.
Thấy ác tăng nhận lời, Vương Nhân nói:
- Thật là một đấng cứu tinh, xin đa tạ ông lớn, xin ông lớn lên xe tới huyện. Con có người đồng sự cũng đến am Quan âm mời vị ni cô Thất Chư tới huyện, cùng lập đàn tràng, họ đã đi rồi. Ta hãy đuổi theo, rồi cùng đến huyện, quan huyện thấy tới cùng một lúc chắc là rất vui.
Gã ác tăng nghe nói cả ni cô Thất Chư cũng tới huyện thì mừng ra mặt, hắn nghĩ thầm: "Cứ ngỡ là họ chỉ mời mình ta, ai ngời lại mời cả em Thất Chư. Nếu biết trước thì ta đã nhận lời từ lâu rồi. Ta cứ mạnh dạn đi ngại gì! Nếu Thi Bất Toàn không có ác ý, thành tâm mời ta, thì mọi chuyện sẽ bình yên vô sự. Thế rồi hắn nói:
- Anh hãy đợi ta một chút.
Gã ác tăng đi vào trong. Bọn cướp hớn hổ đón tiếp, hỏi rõ nguyên do, rồi lại chúc luôn. Sau đó hắn vào phòng thay quần áo đẹp, bí mật giắt theo binh khí phòng thân, từ biệt bọn cướp rồi bước ra, gọi:
- Sai nha! Ta đi thôi.
Vương Nhân dạ ran, rồi cùng gã ác tăng ra khỏi chùa. Thi Công đang lặng lẽ tính kế bắt Cửu Hoàng và Thất Chư thì sai nhân bước vào quỳ xuống nói:
- Ngài Thủ phủ Trấn của thành này đã đi ngựa tới. Xin lệnh của ngài.
Thi Công thấy thế xua tay nói:
- Biết rồi.
Thi Công vội đứng dậy ra sảnh đường đón tiếp. Hai ông tay cầm tay, nói tiếng Mãn Châu. Thi Công hỏi Thủ phủ Trấn:
- Ông anh có khỏe không?
- Cám ơn ngài, tôi vẫn khỏe. - Trấn Công trả lời.
Thấy sảnh đường đông người không tiện bàn bạc, Thi Công nói:
- Các ngươi không cần phải đi đâu, ta tiếp chuyện ngài Trấn rồi sẽ quay lại làm việc.
Tất cả mọi người đều vâng lệnh. Thi Công và Thủ Phủ vào nhà trong. Sau khi mời trà, Thi Công thấy xung quanh không có ai, nói:
- Hôm nay có ý mời ngài tới đây, phiền ngài hết sức giúp đỡ. Chỉ vì hiện nay những vụ án giết người do tên ác tăng và con ni cô dâm đãng cùng với bọn cướp gây ra chưa kết thúc. Hiện đã sai người mời Cửu Hoàng và Thất Chư tới huyện đường với lý do là đến lập đàn tràng cầu phúc, để lừa chúng tới huyện. Ngoài việc đó ra, hoàn toàn mong ngài giúp đỡ, thì đại sự mới xong được.
Thủ phủ Trấn đáp:
- Đương nhiên chúng ta phải hợp lực với nhau để bắt bọn chúng. Tôi xin cáo từ về nha môn, bí mật chuẩn bị điều khiển binh mã.
Thi Công tiễn Thủ phủ Trấn rồi trở về công đường. Ngồi trước án thư, ngẩng đầu thấy kẻ la người kéo. Người bị kéo mặt xám ngoét, áo rách toạc, cả hai đều quần nâu áo vải, dáng vẻ bình thường, trạc trên dưới bốn mươi, đến công đường, họ cùng quỳ xuống kêu van ầm ĩ.
Thi Công quát:
- Các người không hiểu gì cả, đến công đường kiện cáo, vì sau còn kêu toán lên. Hãy thong thả nói ta nghe, nếu còn làm ầm lên ta phạt ngay lập tức.
Hai người thấy thế không đám kêu to. Người này nói:
- Thưa ông lớn, con là Chu Hữu Tín, ông tổ con sống ở Giang Đô. Học hành từ nhỏ, cũng biết thế nào là lễ nghĩa. Hiện con đang buôn bán để kiếm sống. Vì con đến bến đò cất hàng, đi qua hiệu tiền đổi chín lạng tám bạc, tất cả có bốn thỏi. Chủ hàng đang cân, thì con thấy cậu con đi qua, vội vả bỏ bạc đấy đi đón cậu. Gặp cậu xong trở lại cửa hàng, thì anh ta đã giấu bạc của con đi rồi cãi xóa. Bởi thế con cáo giác, mong ngài soi xét.
Nói xong cúi rập đầu xuống đất. Thi Công hỏi người kia:
- Ngươi có mở hiệu tiền không?
Thấy hỏi, người kia khấu đầu thưa:
- Con là Lưu Danh Vĩnh, vốn người Từ Châu, chuyển gia đình tới Giang Đô mở cửa hiệu tiền để sinh sống. Đã hơn mười năm nay con chưa lường gạt bất cứ ai. Con chưa thấy mặt mũi đồng bạc của Chu Hữu Tín thế nào, thế mà hắn đổ oan cho con, rồi xé rách áo con. Người bên cạnh khuyên, hắn chửi bới ầm ĩ, rồi đòi con bốn thỏi bạc, cả thảy là chín lạng tám. Con không hề biết anh ta ở đâu. Vậy xin cầu mong ngài giải quyết công bằng. Nếu không cho dân làm chủ, thì e rằng hắn sẽ giở thói điêu oa mãi.
Lưu Vĩnh nói xong, hai hàng nước mắt oan khuất rơi lã chã. Thi Công nghe xong, trầm ngâm hồi lâu, nghĩ "Dân Giang Đô giỏi điêu oa lừa đảo. Việc này không có chứng cớ, thì xét xử rõ ràng sao được". Ông suy đi tính lại, mới nghĩ ra một kế, rồi mỉm cười gọi:
- Chu Hữu Tín! Ta hỏi ngươi. Trên đời này, đồng tiền liền khúc ruột, ngươi không cẩn thận để mất bạc, trước hết ngươi có tội, ngươi còn cáo giác gì nữa?
Người ấy tức quá gào lên. Thi Công ra vẻ giận dữ quát:
- Hãy lui xuống, lát nữa hỏi tiếp.
Chu Hữu Tín vâng dạ rồi lui xuống. Thi Công gọi:
- Lưu Vĩnh ta hỏi ngươi, quả thực ngươi không trông thấy bạc của anh ta ư?
Thực tình con không trông thấy bạc của Chu Hữu Tín. - Lưu Vĩnh nói. - Nếu như lương tâm con mờ ám thì cho trời chu đất diệt.
- Ngươi không trông thấy tiền thì thôi. : Thi Công gọi. - Nay ta bảo ngươi, nếu ngươi không nghe, ta sẽ xử tội nặng. - Rồi Thi Công lại nói. - Ngươi hãy lại đây nghe ta nói.
Lưu Vĩnh đứng dậy đến bên cạnh bàn quan ngồi. Vừa quỳ xuống, Thi Công vẫy tay, Lưu Vĩnh lập tức đứng vào bên cạnh. Thi Công cầm bút sơn, nói:
- Lưu Vĩnh đưa tay đây.
Lưu Vĩnh đặt tay lên bàn, Thi Công viết chữ "bạc", rồi đặt bút xuống, mỉm cười:
- Lưu Vĩnh nghe cho rõ: ngươi hãy tới ban công quỳ quay ra ngoài, ngồi im không được nghiêng ngó, chỉ nhìn vào chữ “bạc" trong tay. Nếu lau đi tí nào thì không những bắt ngươi phải bồi thường, mà còn phải phạt nặng.
Một lát sau, thấy người nha lại giải vợ Lưu Vĩnh hiệu buôn tiền đến quỳ trước công đường. Thi Công thấy người đàn bà này thanh nhã, không thô tục, bèn nói:
- Chồng ngươi còn thiếu mấy lạng bạc tiền công quỹ, anh ta bảo chị mang tới giao trả khoản nợ này. Có hay không, hãy nói mau.
Người đàn bà thấy hỏi thế, thưa:
- Ngài nói sai rồi! Phàm việc gì cũng đều do chủ, chồng con thiếu tiền thì lý ra phải đòi chồng con, chứ con làm gì có bạc mà trả. Con là gái khuê các, con nhà lành, sống thanh bạch, cớ sao lại cho gọi con, giơ mặt lên huyện gặp quan, khiến cho người đời chê cười. Người biết, nói là do chồng mà bị liên lụy. Người không biết, bảo con làm bại hoại gia phong. Chỉ sợ những người hàng xóm nói những lời bất nhã. Ngài là một quan huyện, là cha mẹ dân, làm quan không ngay thẳng mà lại rất hồ đồ, nhận tước lộc ban mà không làm được việc.
Thi Công thấy người đàn bà nói có lý, cảm thấy vui mừng, không nổi giận mà mỉm cười nói:
- Người đàn bà kia đừng có nói càn, người ta thường nói, làm bề tôi phải trung, làm con phải hiếu, quan thanh liêm thì nha lại phải nghiêm, trên có pháp luật, thì triều đình mới ổn định. Ngươi đừng kêu bừa, tất cả mọi việc đều có quỷ thần chứng giám. Ngươi hãy chờ chút nữa sẽ biết rõ, kẻ xấu xa, trời sẽ không dung thứ.
Nói xong, Thi Công gọi:
- Sai nha tới ngay ta nói nhỏ.
Rồi lại bảo:
- Người đàn bà kia, không cần phải nổi nóng nữa. Ngươi hãy nhìn ra ngoài ban công. Vì chồng ngươi còn thiếu bạc chưa giao, ta phạt quỳ tại đó. Chờ ta hỏi hắn trước mắt ngươi, ngươi nghe hắn nói xem có bạc không, ngươi đừng trách ta.
anh sex
truyen dam
phim sex hay
truyen sex hay
truyen lau xanh
truyen loan luan
truyen nguoi lon
truyen sex hoc sinh
Chương 6 (B)
Thấy trời đã muộn, Công Nhiên bảo Tử Nhân tìm chỗ nào ăn cơm, nay đã biết được tin thực rồi, hãy về nha môn ngay. Tử Nhân đáp:
- Chúng ta đi về thôi, về thành bẩm báo với ông lớn, kết thúc nhanh vụ án này. Đây cũng là công lao lớn của chúng ta.
Nói xong, lòng họ tràn đầy vui sướng ra về.
anh sex
truyen dam
phim sex hay
truyen sex hay
truyen lau xanh
truyen loan luan
truyen nguoi lon
truyen sex hoc sinh
Thi Công từ cửa hàng ăn đi ra, đi theo người đàn bà, dò la về nguyên nhân bà đi kiện. Song thật uổng công, chẳng biết được gì thêm. Thấy trời còn sớm, về nha môn không tiện, ông nghĩ: "Sao ta không vào thành dò la xem sao, khi nào trời tối mới về nha môn...". Thế rồi ông rảo bước vào thành, thì gặp hai viên sai nha hớn hở đi tới. Từ xa Thi Công đã nhìn thấy hai người giả ăn mày, tự nhiên ông thấy thương họ: "Thôi hãy tránh vào một chỗ cho họ đi qua". Không ngờ hai người cũng đã nhìn thấy ông, bám theo ngay. Thi Công vào miếu, hai người cũng theo gót bước vào. Thi Công ngồi trên thềm, thấy không có ai, hai người vội bước tới, quỳ xuống nói:
- Bẩm ông lớn, bọn chúng con vâng lệnh ông, đã dò tìm được Cửu Hoàng và Thất Chư, hiện chúng đang ở chùa Liên Hoa. Chúng con còn dò biết Thất Chư là em nuôi của Cửu Hoàng, người Tô Châu. Trước đây họ gian dâm với nhau, rồi đưa nhau tới đây.
Nghe thấy thế, Thi Công đang buồn bỗng vui hẳn lên. Rồi ông hỏi:
- Vì sao lại gọi là Cửu Hoàng và Thất Chư?
Hai người nói:
- Hai đồ đệ của họ đã nói với chúng con, vì sau lưng sư phụ có chín mụn cơm bằng hạt đậu nên gọi là Cửu Hoàng. Còn trước ngực ni cô có bảy nốt ruồi đen, nên gọi là Thất Chư. Trong miếu còn có mười hai tên đầu gấu, hắn làm bất kể việc gì.
Nghe xong Thi Công trầm ngâm một hồi rồi lâu rồi nói:
- Trời đã muộn, hai người theo ta vào thành. Tối nay các người đến đường Chữ Thập theo dõi hành tung của tên ác tăng và ni cô dâm đãng ấy.
Nói xong đứng dậy. Hai người theo ông vào thành. Họ thấy đám đông bàn tán ồn ào. Có người nói:
- Quan huyện này tốt hơn quan huyện trước.
- Đừng có nhẹ dạ mà tin bọn nha dịch. - Có người nói thế.
- Tự mình đi dò la, thì ông quả là con người yêu thương dân.
Có người nói:
- Quan huyện thật là một người thanh liêm.
Trong đó có một người kêu lên:
- Các ông có im mồm hay không, đừng có nói càn. Cẩn thận không quan huyện nghe thấy thì no đòn.
Vì vụ án chưa xét xử được, Thi Công trà trộn trong đám đông nghe ngóng người dân bàn tán. Ngẩng đầu lên Thi Công thấy ánh đèn, người ồn ào chen lấn, nói:
- Đến rồi! Đến rồi!
Thi Công đang đứng trong đám đông, thấy một lễ đài - đài dựng đối diện với cửa am Quan âm - đài kết hoa bằng các tấm the màu, đèn lồng treo la liệt. Chính diện dựng một chiếc bục, một hòa thượng đang ngồi chễm chệ, mắt to, lông mày rậm, đầu đội mũ Phật, mình mặc áo hồng, mồm đọc kinh, tay bắt quyết. Những sư khác ngồi hai bên, nhìn kỹ thì không phải chỉ có sư nam, mà có cả sư nữ, họ ngồi bên đọc họa theo. Tuổi họ đều trạc trên dưới ba mươi. Vào tiết rằm tháng Bảy, trời vẫn oi bức nên người nào cũng đầu trần, mặc áo choàng qua vai, tuy nói là đọc theo, song trong đó có một người vẫn mặt mày hớn hở, liếc mắt đưa tình với gã sư dữ tợn. Cô ta cứ nghiêng nghiêng ngó ngó liếc ngang liếc dọc, Thi Công quay lại nhìn xuống dưới lễ đài. Ở chính giữa đặt một chiếc bàn cao, hai bên là hai chiếc ghế dài, mỗi bên có chín ni cô, cả thảy mười tám người đều mặc áo cà sa, đầu trần, đánh chuông gõ mõ. Họ đều trạc trên dưới hai mươi tuổi, cô nào cũng có vẻ lả lướt, lẳng lơ. Tuy không son phấn, nhưng đều răng trắng má hồng, trông tựa đào hoa. Họ đánh chuông gõ mõ, mồm niệm Phật, nhưng lại cứ nhìn trước ngó sau, mặt tươi như hoa sen chớm nở, chẳng có chút dáng dấp một người tu hành.
Thi Công xem xong, lặng lẽ gật đầu. Như thế chẳng trách nào chúng làm loạn Giang Đô. Vị ngồi chính giữa chính là Cửu Hoàng, còn trong đám ni cô không biết ai là Thất Chư. Nhìn kỹ người ngồi đầu bàn là một sư nữ trông rất lẳng lơ và là người xinh đẹp nhất, cô ta cũng đánh chuông gõ trống. Xem xong, Thi Công nói thầm: "Chẳng trách khiến lòng sư rối loạn!". Nghe xong ba hồi chuông trống, đã vào lúc canh hai, của bố thí cũng phát hết, dân chúng tản mát ra về. Thi Công nói với hai nha lệ:
- Duyên do Cửu Hoàng Thất Chư ta đã hiểu hết rồi. Ngày mai các anh không phải đến nha môn nữa, hãy trở lại chùa Liên Hoa, phải hết sức cẩn thận, dụ dỗ hai chú tiểu, hỏi cặn kẻ tình hình, và gốc gác họ tên của mười hai tên đạo tặc, rồi về nha môn báo lại, để ta định ra kế hoạch bắt chúng.
Hai người vâng lệnh, còn Thi Công nhân lúc đêm tối trở về nha môn.
Thi An đón Thi Công vào phòng, tắm rửa, thay quần áo. Cơm nước xong ông lên giường ngủ một mạch tới sáng hôm sau. Khi trở dậy rửa mặt, thay quần áo xong, ông bèn sai người đánh trống mở công đường. Thi Công ngồi oai vệ ở giữa, nha lệ đứng xếp hàng hai bên. Rồi với tay lấy hai tờ lệnh, gọi Vương Nhân và Từ Mậu. Hai người dạ ran, tiến đến trước mặt quỳ xuống. Thi Công nói:
- Ngươi hãy đến am Quan âm tại đường Chữ Thập mời ni cô Thất Chư, và đến chùa Liên Hoa ở ngoại thành mời Cửu Hoàng tới đây cho ta. Bản huyện muốn mời họ lập đàn cầu phúc.
Hai người vâng lệnh rời khỏi công đường.
Sau đó Thi Công lại quay xuống dưới bảo: đi mời Chấn Thủ phủ, và cử một số sai nhân chuẩn bị sẵn sàng.
Vương Nhân và Từ Mậu đi mời Cửu Hoàng và Thất Chư. Hai người cùng đi một đường, nên vừa đi vừa nói chuyện về quan huyện, thoáng một cái đã đến am Quan âm. Một người vào am. Thất Chư là một ni cô dâm đãng, đang trong am say sưa nghĩ tới cuộc làm tình mê đắm với hòa thượng Cửu Hoàng, bỗng nghe thấy tiếng chân bước, giật mình nghĩ: "Không biết ai thế? Chắc là thí chủ đến dâng hương". Thế rồi ni cô lên tiếng gọi:
- Tiểu ni cô.
Nghe thấy tiếng thưa, rồi tiểu ni cô bước vào, tươi cười nói:
- Thưa sư phụ, có việc gì cần sai bảo tiểu đệ!
Thấy ni cô hỏi, dâm ni cô nói:
- Ngươi hãy mau ra ngoài, xem có ai đến!
Tiểu ni cô vâng lời, vội chạy ra xem, thấy hai người đi tới, bèn hỏi:
- Hai ông từ đâu tới? Đây là nơi ở của sư nữ, sao các ông cứ sồng sộc vào như thế!
Hai nha sai thấy thế nói:
- Chúng tôi từ huyện đường tới. Ngươi hãy vào nói với sư thầy chúng tôi vâng lệnh quan huyện đến mời Thất Chư Cô Cô tới ngay nha môn lập đàn tràng cầu phúc.
Ni cô nhỏ nghe thấy thế, nói:
- A! Hóa ra các ông là sai nha. Xin các ông chờ một chút, tôi sẽ vào báo với sư thầy, rồi sẽ trở lại thưa với các ông sau.
Nói xong tiểu ni cô quay vào phòng , nói lại với Thất Chư. Nghe xong Thất Chư thấy khó hiểu, nói:
- Quan huyện mời ta hành lễ ư?
Rồi ni cô Thất Chư nghĩ: "Thi Công hoàn toàn không quan hệ với ta. Gần đây nghe thấy những chủ trại đã gây ra nhiều án mạng, ông ta đã biết rồi chăng? Nếu không đi thì với danh nghĩa là quan huyện, ông ấy sẽ trị cho. Nếu đi e rằng bất lợi". Ngẫm nghĩ một lát, Thất Chư chợt nghĩ ra một kế, thầm nghĩ: "Được rồi! Sao ta không lôi kéo dụ dỗ ông ta", rồi bảo ni cô nhỏ :
- Ngươi hãy ra mời họ vào đây gặp ta.
Tiểu ni cô nghe theo, ra mời hai vị sai nha vào phòng.
Thất Chư liếc mắt nhìn, hai sai nha áo mũ nai nịt, gậy gộc lỉnh kỉnh, tướng mạo như cú vọ. Thất Chư ngán ngẩm đành phải hỏi:
- Quan sai các ông tới đây có việc gì?
Ni cô dâng trà. Hai người nhìn thấy bủn rủn cả chân tay, hồn vía lên mây, dục vọng khó kìm. Ai ai cũng đồn rằng Thất Chư tuyệt đẹp, nay nhìn thấy mới biết lời đồn của quả không ngoa. Dâm ni cô hỏi họ tên hai người quan sai nha. Hai người nói:
- Chúng tôi vâng lệnh quan huyện tới đây mời sư thầy tới nha môn, thiết lập đàn tràng cầu mong phúc lành. Quan huyện phải mời bằng được sư thầy cùng đi với chúng tôi tới huyện đường là tốt nhất.
Nói xong nghẹo đầu nghẹo cổ tỏ vẻ lo lắng, nhưng lại cứ dán mắt nhìn ni cô. Thất Chư thấy vậy chửi thầm hai sai nha: "Đồ mặt dày đáng ghét, nếu không có phép vua thì lập tức đầu các ngươi sẽ rơi xuống đất. Không biết hôm nay Thi Công cho người tới mời là việc lành hay việc dữ, điều ấy khó mà đoán được. Ta nghĩ rằng, sinh mạng trong thành bị chết rất nhiều, hay ông đã đánh hơi thấy, chẳng sao mà biết được nữa. Nếu ông chưa biết được động tĩnh mà không đi thì càng bất lợi...". Trầm ngâm hồi lâu, Thất Chư quyết: "Nghĩ tới làm gì, thôi thì ta cứ tới xem sao. Dù có biển động thì bên ngoài đã có anh Cửu Hoàng và các chủ trại, hơn nữa, mình lại có thuật bay lên mái hiên, nhảy qua tường, lên ngựa múa đao thì sợ gì! Tức khí ta lên ngựa tới ngay Giang Đô, ra tay để chúng kinh hoàng. Gặp thì gặp, ngại gì". Nghĩ xong ni cô giả vờ tươi cười, nói:
- Thưa hai ông, có phải chỉ mời mình tôi hay còn mời ai khác tới huyện.
Từ Mậu nói:
- Có mời cả sư phụ Cửu Hoàng ở chùa Liên Hoa Cửa Bắc. Đi thôi quan huyện đang chờ chúng ta.
Thất Chư cười nói:
- Quan sai hãy nán lại một chút, chờ tôi thay quần áo cùng đi. Hai sai nghe thấy ni cô nói là cùng đi, họ rất mừng. Thất Chư thay quần áo mới trở ra. Hai sai nha thấy từ ni cô thoang thoảng tỏa ra mùi hương hoa lan. Họ nhìn kỹ, thấy ni cô thật đáng yêu, một lời không sao lột tả hết, khiến lòng họ cứ rạo rực, khó mà kìm nén nổi, và cảm thấy thèm khát vô cùng. Họ nói:
- Đi mau lên!
Thất Chư ra khỏi phòng, bảo tiểu ni cô đóng cửa. Tiểu ni cô nói:
- Con ra đây ạ!
Ni cô đi trước, hai sai nha theo sau, cùng ra khỏi am.
Từ Mậu cùng với Thất Chư trở về nha môn, bảo Vương Nhân ra khỏi thành đi mời hòa thượng Cửu Hoàng. Vương Nhân nhận lời đi ngay, không dám chần chừ. Ra khỏi cửa Bắc, chẳng còn lòng dạ nào nhìn quang cảnh quanh chùa, vội đi vào cửa ngách. Đang đi thì thấy Công Nhiên và Tử Nhân, Vương Nhân chợt giật mình. Hai người này đóng giả ăn mày đang quét dọn sân sau chùa. Vương Nhân buồn rầu định tới nói chuyện. Thấy Công Nhiên xua xua tay, Tử Nhân lắc đầu đau mắt. Họ sợ có người nhìn thấy, biết được cơ mưu, làm lộ tin tức. Vương Nhân nhanh trí gật đầu đi ra ngoài: Rất mừng là trong chùa không có ai nhìn thấy. Ba người lần lượt ra khỏi chùa, tới chỗ vắng, họ thuật cho nhau nghe về công việc của mình. Vương Nhân nói:
- Tôi được lệnh tới đây mời Cửu Hoàng về huyện đường.
Nghe thấy thế Công Nhiên và Tử Nhân giật thót mình, nói:
- Em hãy về ngay, mời Cửu Hoàng hoàn toàn không được đâu.
- Xin mong hai anh chỉ bảo. - Vương Nhân nói. - Em phải làm cách nào mới mời được Cửu Hoàng?
- Em ạ! - Công Nhiên nói. - Tên ác tăng này rất nguy hiểm, một đao hai gậy có thể đi trên không, vượt qua lầu gác như đi dưới đất bằng. Hiện ở đây đang tụ tập rất nhiều bọn cường đạo, đứa nào cũng võ nghệ cao cường, địch nổi hàng vạn người.
Nghe Công Nhiên nói, Vương Nhân cười nói:
- Anh không nên dọa tôi! Tôi đi lại cửa Lục Phiến, nếu không có bản lĩnh thì tôi làm sao dám xin vào làm việc ở cửa quan? Nay điều cốt yếu là phải mời cho bằng được hòa thượng Cửu Hoàng. - Rồi anh nói tiếp. - Chỉ có như thế thì mới gọi hắn đi được, xin hai anh cứ yên tâm.
Nói xong Trương và Anh đứng dậy vào chùa trước, lát sau Vương Nhân mạnh dạn bước vào chùa, gọi to:
- Chùa có ai không?
Thấy có một gã sư bước ra hỏi Vương Nhân:
- Ông từ đâu tới đây? Tới đây có việc gì? Hình như ông là sai nha của huyện phải không? - Gã sư ấy cười nói. - Xin mời ông vào phòng uống nước.
Vương Nhân theo sư vào chùa. Để họ mời trà xong, Vương Nhân nói:
- Nếu không có việc, thì tôi cũng chẳng tới đây làm gì. Tôi được lệnh của quan huyện, mời sư phụ Cửu Hoàng đến huyện lập đàn cầu phúc.
Sư nghe xong, cười nói:
- Xin ông ngồi chờ một chút, tôi vào thưa với hòa thượng trụ trì, rồi sẽ ra thưa lại với ông.
Nói xong người sư ấy đi vào, đến một phòng bí mật. Hòa thượng Cửu Hoàng đang chén chú chén anh với mười hai tên cướp, bỗng ngẩng đầu hỏi chú tiểu:
- Sao không ở ngoài canh cửa? Mày vào đây làm gì?
Chú tiểu nói lại lời Vương Nhân với Cửu Hoàng. Cửu Hoàng có phần bực bội, không vui nói:
- Mày bảo với nó là lát nữa ta ra gặp.
Chú tiểu vâng lời, ra khỏi phòng bí mật, gặp Vương Nhân nói:
- Sư phụ tôi sắp ra đấy.
Gã ác tăng nghe sai nha tới mời mình, nhìn bọn cướp nói:
- Các vị trại chủ, theo tôi nghĩ, Thi Bất Toàn sai người tới mời không biết là có ý tốt hay ý xấu. Chúng ta phải bàn xem, thì mới bảo toàn vô sự. Hơn nữa, nghe nói, lão ta có nhiều mưu ma chước quỷ, là con cáo lừa dối. Sợ rằng tới công đường sẽ bất lợi.
Thấy hỏi thế, bọn cướp nói:
- Tuy là những việc các ông làm rất ghê, song chúng tôi cho rằng có to gan đến mấy, chúng cũng không dám đụng tới ông. Bọn quan viên văn võ ở Giang Đô có gì đáng sợ. Nếu dứt dây động rừng, chiến mã tung ra sẽ làm cỏ cả Giang Đô này. Xin ông cứ đi gặp, ngại gì. Tùy cơ ứng biến, xúc cảnh sinh tình. Nếu lập đàn tràng thì ông cứ đọc kinh niệm Phật, chúng tôi sẽ đi lại bên ngoài nghe ngóng, hẹn trước với nhau thì còn sợ kẻ nào nữa? Hơn nữa ông anh có thuật bay lên hiên, vượt qua tường. Nếu có gì bất trắc, bọn em ở đây, tất cả sẽ ào đến, giết quan cướp kho, chém hết bọn chúng, thành này sẽ ra nước. Xong đâu đấy, chúng ta sẽ lên núi cao, quân quan làm gì nổi ta!
Tên ác tăng nghe thế rất mừng, nói:
- Các anh nói có lý. Các anh cứ ở đây, tôi đi trước xem thế nào. Nếu như chúng biết điều, cung kính thì ta sẽ nhận lời còn như kiêu căng ta đây là nha lệ, thì chúng sẽ biết tay ta.
Nói xong tên ác tăng đứng dậy, lảo đảo bước ra, quát tháo:
- Đứa nào mời ta đi cúng Phật? Ông Cửu này không cần tiền.
Thấy Cửu Hoàng hung ác, Vương Nhân nghĩ bụng: "Đúng như hai người nói, ta phải thận trọng mới được".
Vương Nhân thấy thế hỏi chú tiểu:
- Đây là sư trụ trì của chú ư?
- Vâng! - Chú tiểu đáp.
Vương Nhân thấy bực, vội tới chỗ ác tăng. Cửu Hoàng mắt lim dim, mùi rượu sặc sụa. Vương Nhân nhanh trí đến bên Cửu Hoàng vui vẻ hỏi:
- Xin kính chào đại sư phụ! Đại sư phụ có khỏe không?
Tuy uống nhiều rượu, nhưng Cửu Hoàng vẫn tỉnh táo, thấy sai nha chào mình, hắn mở mắt ra, đáp:
- Khỏe, còn ngươi thế nào?
Vương Nhân chửi thầm: "Một thằng côn đồ giở thói lưu manh. Thật đáng ghét". - Rồi lại nghĩ.- "Phải kìm nén, vì mình đến cầu nó, không được tỏ ra tức giận". Đành đáp:
- Con đâu xứng đáng được ngài hỏi thăm.
Gã ác tăng liếc mắt nhìn, nói:
- Anh là sai nha của huyện ư?
- Vâng ạ - Vương Nhân đáp. - Con được ngài quan huyện sai đến mời ngài tới huyện lập đàn tràng cầu phúc. Cho nên con mới dám tới làm phiền quý chùa.
Nghe nói thế, gã ác tăng không vui, nói:
- Anh bạn, anh ghê thật? Anh coi thường ta quá. Ta thiếu gì tiền, cần gì đến tiền đi cúng. Hãy về nói với ông lớn của anh, ta không đi.
Thấy thế Vương Nhân lo lắng. Làm thế nào bây giờ, thôi thì cứ chịu nhún với hắn xem sao. Bỗng ác tăng cười nhạt nói:
- Vô lý! Trong huyện Giang Đô, ngoài ông Cửu Hoàng này ra, lẽ nào hòa thượng chết hết cả rồi? Không phải ông Cửu Hoàng nói khoác, ngay đến ông trời mời, ta cũng không đi, huống hồ là Thi Bất Toàn, ông ta chỉ là một người thường thôi.
Nghe thấy thế Vương Nhân vội nhún mình cười nói:
- Ông lớn! Đừng nổi nóng! Ông lớn không đi thì con chết. Con về biết nói thế nào với quan huyện con. Nếu quan lớn không thương con thì con về quan huyện sẽ đánh chết tươi! Ông lớn là đệ tử của Phật, chỗ nào mà ông lớn không mở rộng từ bi, đó chẳng phải ông lớn làm điều thiện ư? Ông lớn hãy thương cho thân phận sai nha khổ sở này. Con cắn rơm, cắn cỏ van xin ông hãy cứu con. Xin ông lớn hãy lên xe Phật tới huyện thì con mới sống được.
Gã ác tăng ngồi trên ghế, đang giận dữ, nghe thấy sai nha một điều ông lớn, hai điều ông lớn, nói những lời xu nịnh, gã ác tăng thấy thế mỉm cười, chửi:
- Thằng bẻm mép, mày nói khiến ta không còn cách nào khác. Được rồi! Nếu ông lớn không thương mày, thì mày khổ.
Thấy ác tăng nhận lời, Vương Nhân nói:
- Thật là một đấng cứu tinh, xin đa tạ ông lớn, xin ông lớn lên xe tới huyện. Con có người đồng sự cũng đến am Quan âm mời vị ni cô Thất Chư tới huyện, cùng lập đàn tràng, họ đã đi rồi. Ta hãy đuổi theo, rồi cùng đến huyện, quan huyện thấy tới cùng một lúc chắc là rất vui.
Gã ác tăng nghe nói cả ni cô Thất Chư cũng tới huyện thì mừng ra mặt, hắn nghĩ thầm: "Cứ ngỡ là họ chỉ mời mình ta, ai ngời lại mời cả em Thất Chư. Nếu biết trước thì ta đã nhận lời từ lâu rồi. Ta cứ mạnh dạn đi ngại gì! Nếu Thi Bất Toàn không có ác ý, thành tâm mời ta, thì mọi chuyện sẽ bình yên vô sự. Thế rồi hắn nói:
- Anh hãy đợi ta một chút.
Gã ác tăng đi vào trong. Bọn cướp hớn hổ đón tiếp, hỏi rõ nguyên do, rồi lại chúc luôn. Sau đó hắn vào phòng thay quần áo đẹp, bí mật giắt theo binh khí phòng thân, từ biệt bọn cướp rồi bước ra, gọi:
- Sai nha! Ta đi thôi.
Vương Nhân dạ ran, rồi cùng gã ác tăng ra khỏi chùa. Thi Công đang lặng lẽ tính kế bắt Cửu Hoàng và Thất Chư thì sai nhân bước vào quỳ xuống nói:
- Ngài Thủ phủ Trấn của thành này đã đi ngựa tới. Xin lệnh của ngài.
Thi Công thấy thế xua tay nói:
- Biết rồi.
Thi Công vội đứng dậy ra sảnh đường đón tiếp. Hai ông tay cầm tay, nói tiếng Mãn Châu. Thi Công hỏi Thủ phủ Trấn:
- Ông anh có khỏe không?
- Cám ơn ngài, tôi vẫn khỏe. - Trấn Công trả lời.
Thấy sảnh đường đông người không tiện bàn bạc, Thi Công nói:
- Các ngươi không cần phải đi đâu, ta tiếp chuyện ngài Trấn rồi sẽ quay lại làm việc.
Tất cả mọi người đều vâng lệnh. Thi Công và Thủ Phủ vào nhà trong. Sau khi mời trà, Thi Công thấy xung quanh không có ai, nói:
- Hôm nay có ý mời ngài tới đây, phiền ngài hết sức giúp đỡ. Chỉ vì hiện nay những vụ án giết người do tên ác tăng và con ni cô dâm đãng cùng với bọn cướp gây ra chưa kết thúc. Hiện đã sai người mời Cửu Hoàng và Thất Chư tới huyện đường với lý do là đến lập đàn tràng cầu phúc, để lừa chúng tới huyện. Ngoài việc đó ra, hoàn toàn mong ngài giúp đỡ, thì đại sự mới xong được.
Thủ phủ Trấn đáp:
- Đương nhiên chúng ta phải hợp lực với nhau để bắt bọn chúng. Tôi xin cáo từ về nha môn, bí mật chuẩn bị điều khiển binh mã.
Thi Công tiễn Thủ phủ Trấn rồi trở về công đường. Ngồi trước án thư, ngẩng đầu thấy kẻ la người kéo. Người bị kéo mặt xám ngoét, áo rách toạc, cả hai đều quần nâu áo vải, dáng vẻ bình thường, trạc trên dưới bốn mươi, đến công đường, họ cùng quỳ xuống kêu van ầm ĩ.
Thi Công quát:
- Các người không hiểu gì cả, đến công đường kiện cáo, vì sau còn kêu toán lên. Hãy thong thả nói ta nghe, nếu còn làm ầm lên ta phạt ngay lập tức.
Hai người thấy thế không đám kêu to. Người này nói:
- Thưa ông lớn, con là Chu Hữu Tín, ông tổ con sống ở Giang Đô. Học hành từ nhỏ, cũng biết thế nào là lễ nghĩa. Hiện con đang buôn bán để kiếm sống. Vì con đến bến đò cất hàng, đi qua hiệu tiền đổi chín lạng tám bạc, tất cả có bốn thỏi. Chủ hàng đang cân, thì con thấy cậu con đi qua, vội vả bỏ bạc đấy đi đón cậu. Gặp cậu xong trở lại cửa hàng, thì anh ta đã giấu bạc của con đi rồi cãi xóa. Bởi thế con cáo giác, mong ngài soi xét.
Nói xong cúi rập đầu xuống đất. Thi Công hỏi người kia:
- Ngươi có mở hiệu tiền không?
Thấy hỏi, người kia khấu đầu thưa:
- Con là Lưu Danh Vĩnh, vốn người Từ Châu, chuyển gia đình tới Giang Đô mở cửa hiệu tiền để sinh sống. Đã hơn mười năm nay con chưa lường gạt bất cứ ai. Con chưa thấy mặt mũi đồng bạc của Chu Hữu Tín thế nào, thế mà hắn đổ oan cho con, rồi xé rách áo con. Người bên cạnh khuyên, hắn chửi bới ầm ĩ, rồi đòi con bốn thỏi bạc, cả thảy là chín lạng tám. Con không hề biết anh ta ở đâu. Vậy xin cầu mong ngài giải quyết công bằng. Nếu không cho dân làm chủ, thì e rằng hắn sẽ giở thói điêu oa mãi.
Lưu Vĩnh nói xong, hai hàng nước mắt oan khuất rơi lã chã. Thi Công nghe xong, trầm ngâm hồi lâu, nghĩ "Dân Giang Đô giỏi điêu oa lừa đảo. Việc này không có chứng cớ, thì xét xử rõ ràng sao được". Ông suy đi tính lại, mới nghĩ ra một kế, rồi mỉm cười gọi:
- Chu Hữu Tín! Ta hỏi ngươi. Trên đời này, đồng tiền liền khúc ruột, ngươi không cẩn thận để mất bạc, trước hết ngươi có tội, ngươi còn cáo giác gì nữa?
Người ấy tức quá gào lên. Thi Công ra vẻ giận dữ quát:
- Hãy lui xuống, lát nữa hỏi tiếp.
Chu Hữu Tín vâng dạ rồi lui xuống. Thi Công gọi:
- Lưu Vĩnh ta hỏi ngươi, quả thực ngươi không trông thấy bạc của anh ta ư?
Thực tình con không trông thấy bạc của Chu Hữu Tín. - Lưu Vĩnh nói. - Nếu như lương tâm con mờ ám thì cho trời chu đất diệt.
- Ngươi không trông thấy tiền thì thôi. : Thi Công gọi. - Nay ta bảo ngươi, nếu ngươi không nghe, ta sẽ xử tội nặng. - Rồi Thi Công lại nói. - Ngươi hãy lại đây nghe ta nói.
Lưu Vĩnh đứng dậy đến bên cạnh bàn quan ngồi. Vừa quỳ xuống, Thi Công vẫy tay, Lưu Vĩnh lập tức đứng vào bên cạnh. Thi Công cầm bút sơn, nói:
- Lưu Vĩnh đưa tay đây.
Lưu Vĩnh đặt tay lên bàn, Thi Công viết chữ "bạc", rồi đặt bút xuống, mỉm cười:
- Lưu Vĩnh nghe cho rõ: ngươi hãy tới ban công quỳ quay ra ngoài, ngồi im không được nghiêng ngó, chỉ nhìn vào chữ “bạc" trong tay. Nếu lau đi tí nào thì không những bắt ngươi phải bồi thường, mà còn phải phạt nặng.
Một lát sau, thấy người nha lại giải vợ Lưu Vĩnh hiệu buôn tiền đến quỳ trước công đường. Thi Công thấy người đàn bà này thanh nhã, không thô tục, bèn nói:
- Chồng ngươi còn thiếu mấy lạng bạc tiền công quỹ, anh ta bảo chị mang tới giao trả khoản nợ này. Có hay không, hãy nói mau.
Người đàn bà thấy hỏi thế, thưa:
- Ngài nói sai rồi! Phàm việc gì cũng đều do chủ, chồng con thiếu tiền thì lý ra phải đòi chồng con, chứ con làm gì có bạc mà trả. Con là gái khuê các, con nhà lành, sống thanh bạch, cớ sao lại cho gọi con, giơ mặt lên huyện gặp quan, khiến cho người đời chê cười. Người biết, nói là do chồng mà bị liên lụy. Người không biết, bảo con làm bại hoại gia phong. Chỉ sợ những người hàng xóm nói những lời bất nhã. Ngài là một quan huyện, là cha mẹ dân, làm quan không ngay thẳng mà lại rất hồ đồ, nhận tước lộc ban mà không làm được việc.
Thi Công thấy người đàn bà nói có lý, cảm thấy vui mừng, không nổi giận mà mỉm cười nói:
- Người đàn bà kia đừng có nói càn, người ta thường nói, làm bề tôi phải trung, làm con phải hiếu, quan thanh liêm thì nha lại phải nghiêm, trên có pháp luật, thì triều đình mới ổn định. Ngươi đừng kêu bừa, tất cả mọi việc đều có quỷ thần chứng giám. Ngươi hãy chờ chút nữa sẽ biết rõ, kẻ xấu xa, trời sẽ không dung thứ.
Nói xong, Thi Công gọi:
- Sai nha tới ngay ta nói nhỏ.
Rồi lại bảo:
- Người đàn bà kia, không cần phải nổi nóng nữa. Ngươi hãy nhìn ra ngoài ban công. Vì chồng ngươi còn thiếu bạc chưa giao, ta phạt quỳ tại đó. Chờ ta hỏi hắn trước mắt ngươi, ngươi nghe hắn nói xem có bạc không, ngươi đừng trách ta.
anh sex
truyen dam
phim sex hay
truyen sex hay
truyen lau xanh
truyen loan luan
truyen nguoi lon
truyen sex hoc sinh
Đoán Án Kỳ Quan Tập 2 1 - 11-7
Trang 7 trong tổng số 20
Chương 5 (B)
Ngồi trên thuyền suốt một đêm, sáng hôm sau thuyền cập bến, họ lên bờ. Ở đây cư dân rất ít, lại sống rải rác khắp nơi, thấy một khu đất rộng rãi, nhà cửa thâm nghiêm, nhà nào cũng kín cổng cao tường, bao xung quanh khu dân cư là một con sông nhỏ. Đây là một trang trại biệt lập. Hy Đà chắp tay mời vào nhà khách. Gia nhân mang trà ra, rồi Hy Đà bảo làm cơm. Cơm xong, chủ nhân nói với Nhậm Viễn:
- Tôi định sang năm mới mời thầy, nay đã lưu được ông ở đây thì ngày mai khai trương. Hàng quý tôi trả tiền cho ông, ông thấy thế nào?
- Nhà tôi còn một số việc, - Nhậm Viễn nói, - muốn về thu xếp khi nào xong tôi sẽ tới ngay.
- Như thế này vậy. - Hy Đà nói. - Tôi sẽ sai người đem tiền quý này đến nhà ông, và mang thư người nhà về đây cho ông, còn ông không phải viết thư nữa. Thế có được không?
Nhậm Viễn mừng rơn, nói:
- Rất cảm ơn sự nhiệt tình của ông! Có tiền lương một quý thì tôi không phải về nữa.
anh sex
truyen dam
phim sex hay
truyen sex hay
truyen lau xanh
truyen loan luan
truyen nguoi lon
truyen sex hoc sinh
Đêm ấy, Hy Đà đưa ông tới thư phòng nghỉ ngơi. Hôm sau là ngày tết, hai đứa học trò đến chào thầy, thấy chúng khôi ngô tuấn tú, Nhậm Viễn hỏi tuổi, thì đứa lớn mười bảy tuổi, đã biết học văn, đưa bé mười sáu tuổi, đã học cổ văn. Hai đứa trẻ khá thông minh, Nhậm Viễn dạy chúng cũng nhàn nhã, giảng bài là chúng hiểu ngay. Mấy hôm sau Nhậm Viễn nhận được thư nhà, biết nhà đã nhận được tiền lương. Từ đó Nhậm Viễn yên tâm dạy học, không cần phải lo nghĩ gì việc nhà nữa. Trường đầy đủ tiện nghi, thầy trò rất tương đắc. Khi nào học sinh không tới lớp, ngồi một mình trong phòng, Nhậm Viễn cảm thấy cô đơn lạnh lẽo, sau mới hỏi học sinh:
- Ở đây có chỗ nào dạo chơi cho đỡ buồn không?
- Ở đây hoang vắng, chẳng có chỗ nào đáng đi. Chỉ có một điều chúng con muốn dặn thầy là: tối đến không có việc chi thì cứ đi ngủ sớm, đừng bước ra khỏi thư phòng nửa bước. Thầy nhớ kỹ nhé!
Nhậm Viễn nghĩ bụng: "Bên ngoài thư phòng thì là nội thất cho nên nó dặn mình không nên ra".
Thế rồi ông gật đầu nói:
- Hiểu rồi, hiểu rồi.
Năm sau, vào tiết Thanh minh, lại nhận được thư nhà, nói rằng ở nhà đang rất cần tiền, tiền lương tiết Thanh minh đã nhận đủ rồi. Ngoài tin đó ra, thì là những chuyện lặt vặt trong nhà. Nhậm Viễn nói với học trò rằng:
- Người nhà mang tiền đi cũng nên nói qua với thầy một Câu, thầy cũng muốn gửi thư về nhà.
- Viết thì cũng chẳng khó gì - học trò nói. - Chỉ có điều trong thư đừng viết địa chỉ ở đây, nếu viết cha sẽ quở trách.
Hỏi vì sao, thì chúng chỉ cười mà không nói. Nhậm Viễn nghĩ: "Ông ấy không muốn mình viết rõ địa chỉ, chắc là ông ấy sợ người nhà mình biết được, hoặc người khác tìm đến quấy rầy, như thế cũng là cố chấp. Song cũng phải thừa nhận là, ông đã mang tiền lương tới cho gia đình, và đem thư trả lời của người nhà, nên mình cũng yên tâm, chẳng cần viết thư làm gì khiến ông mất vui".
Tới mùa hè, ông dạy người học trò lớn làm văn, còn người học trò bé học văn chương của các bậc tiền bối. Học trò rất thích thú. Chỉ có ông chủ, thì sau khi gặp lần đầu đến nay chẳng thấy bóng dáng ông đâu, thỉnh thoảng có hỏi đến thì chúng bảo không có nhà. Điều ấy ông cũng không hề để ý tới. Vào một đêm, đúng vào lúc Trung thu, học trò nghỉ học, Nhậm Viễn dạo quanh sân. Trăng sáng rất đẹp, thấy thư phòng mở, ông ra cổng nhìn, không phải là nhà trong. Ông lặng lẽ bước ra, thấy bên cạnh có một lối đi nhỏ, hai bên là tường cao quét vôi trắng, trăng sáng vằng vặc như ban ngày, trông xa, không một bóng người. Nhậm Viễn lững thững dạo bước, thấy một luồng gió tanh mùi thịt sống phả vào mặt, lại nghe văng vẳng đâu đây có tiếng kêu rên thảm thiết. Đi thêm mấy bước nữa, thì thấy mấy gian nhà thấp lè tè, tiếng rên rỉ từ trong đó vọng ra, bên trong có ánh đèn leo lét. Nhìn qua khe cửa, ai ngờ, không nhìn thì thôi, khi nhìn vào, ôi thôi, hồn bay phách tán, bủn rủn chân tay, run như cầy sấy.
Bạn biết trong nhà có gì không? Đều là những người thân thể không trọn vẹn. Có người mất mũi, có người mất tai, có người cụt chân, nền nhà sâu tới mấy thước. Có những người máu chảy đầm đìa, nằm chết vật dưới đất. Tất cả những người đó đều rên rỉ đau đớn. Trong chiếc rãnh bao quanh nền nhà, máu, thịt, còn ngổn ngang bừa bãi. Nhậm Viễn vội vã rời khỏi nơi đó, tim cứ đập rộn lên, như ma đuổi. Ông nghĩ: "Chẳng phải ta nằm mơ ư? Lẽ nào ở đây lại là âm ti địa ngục? Thoát ra khỏi địa ngục này đâu phải dễ". Suốt đêm hôm ấy Nhậm Viễn không sao ngủ được.
Sáng hôm sau, thức dậy, Nhậm Viễn cứ ngồi thờ thẫn trong phòng. Nhậm Viễn nghĩ: "Chẳng trách nào bọn học trò bảo mình đừng bước ra khỏi phòng, đó chính là vì thế". Lát sau học trò vào thấy sắc mặt thầy tái nhợt phờ phạt, chúng nói:
- Đêm qua thầy có dám ra ngoài không?
- Không. - Nhậm Viễn đáp.
- Thầy đừng giấu con, chỉ e thầy sợ, - học trò nói.
Thấy nó đoán đúng, Nhậm Viễn nói:
- Thầy đang muốn hỏi con, vì sau nhà con lại có người tàn tật khổ sở như vậy.
- Bây giờ không thể nói thẳng cho thầy biết. Những người bị thương ở trong đó đều do cha con cắt thịt họ làm thuốc. Chỉ vì xưa kia cha con tìm được cuốn sách thuốc bí truyền. Phàm là những người mắc bệnh đều cần những bộ phận trong cơ thể làm dược liệu để chữa trị. Chẳng hạn như, đau ở tai mắt, tứ chi, thì cắt tai mắt, tứ chi luyện thành thuốc; chống ung thư trong lục phủ ngũ tạng thì cắt lục phủ ngũ tạng làm thuốc chữa trị. Chẳng có bệnh nào là không kiến hiệu. Bởi thế, đi bắt một số người về để làm dược liệu, người nào chết thì vứt đi, người nào còn sống thì để dùng đến. Bởi thế mà họ ở đấy chịu khổ sở đau đớn.
- Những người bị cắt thịt lấy ở đâu? - Nhậm Viễn hoảng sợ nói.
- Có người làm nghề thủ công, - học trò nói, - có người là khách giang hồ, cha đã lừa họ tới, rồi không cho họ ra.
Tuy Nhậm Viễn mồm hỏi, song sợ đến thót tim, mặt như chàm đổ, nước mắt lã chã, nói:
- Số phận ta nhất định cũng phải như thế chăng?
- Thầy đừng sợ. - Học trò nói. - Trước đây mời thầy về cũng định thế. Nay mang ơn thầy dạy dỗ, chúng con quyết không bao giờ hại thầy. Sau ba năm sẽ cho thầy về. Song nay thì không về được, thầy phải sống ở đây thôi.
Nhậm Viễn nắm chặt lấy tay học trò, nói:
- Thầy sẽ.. ở lại đây, tính mạng của thầy trong tay các con, miễn chết cho thầy là tốt rồi.
Học trò an ủi thầy mấy câu rồi đi ra.
Từ đó trở đi, ngày ngày Nhậm Viễn như ngồi trên đống lửa, muốn chạy trốn nhưng tường vây quanh rất cao, làm sao có cánh mà bay được? Lại sợ học trò thay lòng đổi dạ, tính mệnh khó bảo toàn, chỉ đành vờ vịt phụng thờ chúng, làm chúng vui lòng. Nghĩ rằng hằng ngày phải tụng "Bạch y Quan âm thần chú” là đấng cứu khổ cứu nạn, mỗi ngày tụng niệm hàng ngàn lần, sớm tối hướng về phía tây, quỳ lạy để cầu mong Quan âm cứu vớt. Vào một đêm, Nhậm Viễn mơ thấy một người đàn bà mặc áo trắng, nói với ông rằng:
- Phải thoát tai họa, chờ gặp vải.
Mấy hôm sau, bỗng thấy học trò mang đến một tấm vải dài khoảng năm sáu trượng, nói là biếu thầy may quần áo, chờ thợ may đến cắt, rồi để ngay trong phòng. Nhậm Viễn nhớ đến giấc mộng, bỗng nghĩ ra một kế. Vào lúc đêm khuya thanh vắng, không một bóng người, ông nhúng vải vào chậu nước cho ướt sũng, buộc vào chiếc bàn, đặt bên cạnh tường, đứng lên đó, rồi cầm lấy đầu kia tung qua tường, vải ướt dính chặt vào bên kia tường, lôi thử thấy đã chắc, rồi sau đó kéo vải bò lên mặt tường. Nhìn xuống dưới là vườn rau, ông lại theo vải đu mình xuống. Đi khỏi vườn rau, vượt ra bờ rào, thấy một con sông nhỏ chặn lối. May mà từ bé Nhậm Viễn đã biết bơi, thế là ông vượt qua sông lên bờ, vắt chân lên cổ chạy. Đúng là:
Bơ vơ như chó mất chủ
Vội vã như cá sẩy câu.
Chạy thục mạng cho tới khi trời sáng, được khoảng mấy dặm, ai ngờ gặp phải đường cùng, trước mắt là Thái Hồ rộng mênh mông bát ngát.
Nhậm Viễn tuy đã trốn chạy, sợ có người đuổi sau bắt được thì chỉ có đường chết. Trước mắt không thấy chiếc thuyền nào đi qua, cuống lên không còn biết cách nào khác. Đợi một lát, thấy đằng trước có một chiếc thuyền buồm đi tới. Nhậm Viễn gào lên kêu cứu. Chiếc thuyền ấy hạ buồm ép mạn vào bờ. Nhậm Viễn nhẩy phốc lên thuyền. Nhà thuyền thấy ông ướt như chuột lột, dáng vẻ kinh hoàng, bèn hỏi:
- Có phải ông gặp cướp không? Bây giờ đi đâu?
- Đúng là gặp cướp, - Nhậm Viễn nói. - Bây giờ cho tôi về núi Động Đình.
- Về đấy cũng thuận đường, - nhà thuyền nói, - Cho ông đi nhờ tới đó được rồi.
Thế là họ kéo buồm lên. Chưa đầy hai giờ thì tới núi Động Đình. Từ biệt nhà thuyền lên bờ, Nhậm Viễn đến ngay nhà người bạn thân. Người bạn trông thấy vội hỏi:
- Tôi nghe thấy anh đang dạy học ở nơi xa, sao trông anh lại phờ phạc thế này. Có phải bị đắm thuyền không?
- Chuyện dài lắm, nói một câu không hết được - Nhậm Viễn nói.
Thế rồi anh kéo bạn đến chỗ vắng, kể lại hết hành động của Ma Hy Đà và việc tranh bị lừa thế nào cho bạn nghe.
Đã như thế - người bạn kinh hãi nói, - phải đi báo quan ngay.
Thế rồi họ cùng nhau tới Thái Hồ Sảnh bẩm quan. Quan Thái Hồ Sảnh gọi vào, hỏi tỉ mỉ từng việc, rồi lệnh cho nha lệ biết. Đồng thời báo cho phó tướng Thái Hồ mang quân lính phối họp cùng đi bắt. Cho Nhậm Viễn làm nhân chứng sống, cùng đến Tiêu Hạ Loan.
Hôm ấy bọn học tr dậy, không thấy thầy đâu, còn tấm vải thì vắt trên tường. Biết là thầy đã vượt tường chạy trốn. Song nơi này không có thuyền làm sao chạy thoát. Chúng gọi người nhà vạch bãi lau sậy, tìm khắp nơi, không thấy Nhậm Viễn đâu. Lúc ấy Ma Hy Đà ở Hồ Châu chưa về, bọn người nhà hết sức lo lắng. Thế rồi bất chợt quan quân kéo đến, gác chặt cửa trước cửa sau. Nhậm Viễn dẫn quân quan đánh thốc vào tìm thấy rất nhiều người cụt tay chân. Hai đứa con trai Ma Hy Đà thấy việc đã bị phát giác, hồn bay phách lạc, nhìn thầy gào lên khóc. Nhậm Viễn thấy tình cảnh của chúng hết sức thương tâm, nhưng cũng chỉ biết nói với chúng rằng:
- Cha các con tội ác tầy trời, ta không giúp nổi các con.
Quan phủ cùm tất cả bọn người nhà Ma Hy Đà lại, rồi giải về nha môn. Sau đó gởi giấp đến phủ Hồ Châu bắt Ma Hy Đà về xét xử.
Khi Ma Hy Đà bị giải đến không cần phải kiềm kẹp truy hỏi gì hắn đã khai hết tội ác của mình. Ngay lập tức quan hạ lệnh đánh bốn mươi gậy, tất cả gia thuộc đều bị tống ngục. Sau đó khép Ma Hy Đà vào tội lăng trì, vợ con đều bị chém đầu. Tịch thu toàn bộ tài sản, cấp cho người bị oan, mai táng xương thịt còn vứt ngổn ngang. Hai phủ Tô, Hồ thời ấy đồn ầm lên về chuyện kỳ quái này. Từ đó Nhậm Viễn thờ phụng Quan âm, cả nhà đều quy cửa Phật, không dám ra ngoài dạy học nữa. Đúng là ác giả ác báo. Nhậm Viễn kính cẩn tụng kinh niệm Phật, thì cuối cùng được Đại Sĩ phù hộ, thoát khỏi địa ngục trần gian. Có người nói:
- Hai đứa học trò không nỡ hại thầy, tại sao thầy lại hại chúng. Như thế có phải bất nhẫn không?
Họ không hiểu rằng, trừ hại cho một vùng, tức là một vùng được hưởng phúc. Người xưa thường vì đại nghĩa mà diệt người thân, con còn chẳng tiếc, thì tiếc gì học trò.
Chương 6
Hồ Tú Tài Cáo Trạng Kêu Oan
Thi Hiển Thần Nằm Mơ Xử Án
Ở huyện Giang Đô có một vị tú tài tên là Hồ Đăng Cử. Cha mẹ ông bị giết, đầu bị lấy mất. Cả nhà Đăng Cử hồn bay phách lạc, hốt hoảng lên báo quan huyện Thi Công. Tới huyện thì gặp lúc quan đang làm việc, ông vào huyện đường, cúi chào rồi trình đơn lên quan, nói:
- Thưa thầy, thầy là bậc bề trên, tai họa bỗng dưng giáng xuống đứa học trò này. Con xin cúi đầu thưa với thầy, thầy hãy lập tức bắt ngay.
Nói xong ông dâng lá đơn lên, thư lại nhận đơn đặt lên bàn. Thi Công lặng lẽ nghiền ngẫm. Trong đơn viết:
"Người trình đơn là học trò Hồ Đăng Cử, đời ông con sống tại huyện Giang Đô. Cha con từng làm Hàn lâm, khi tuổi già sức yếu về sống tại quê nhà. Ông làm nhiều việc thiện, xót thương người nghèo khổ, không bao giờ hà khắc với mọi người. Thế mà vào một đêm nọ, cha mẹ con đóng cửa ngủ. Đến khi trời sáng, chúng con tới thăm, gõ cửa, không thấy cha mẹ thưa, con cuống lên, đạp cửa vào, thấy cha mẹ con đều nằm trên giường, hai chiếc đầu mất tích. Con hổ thẹn học tại trường, mà để cha mẹ chết thảm hại như thế. Con gắn bó với trường học, rất hổ thẹn với cha mẹ. Bởi thế con trình lên ngài, thiết tha mong ngài ra ơn, cho bắt ngay bọn hung thủ, để rửa mối hận cho con. Xin vô cùng biết ơn ngài. Xin dâng đơn".
Thi Công xem xong đơn, bất giác gật đầu, kinh sợ. Ông nghĩ: "Đêm khuya vào nhà, không phải kẻ gian thì là giặc. Vợ chồng Hồ Hàn lâm già mà bị giết, lại không lấy của, mà lấy đầu đi, thì rõ ràng là hành động trả thù. Việc này, lại không viết giấy để lại, thì làm thế nào bây giờ.". ông cảm thấy khó khăn, một lúc lâu ông nói:
- Ta sẽ cử ngay bốn quan Bổ sảnh đi khám nghiệm tử thi, xong sau đó anh cứ khâm liệm cha mẹ. Nhất định ta sẽ tìm ra manh mối giải quyết.
Hồ Tú Tài nghe thấy thế đành nuốt nước mắt, rời khỏi công đường về lo việc khám nghiệm tử thi.
Thi Công cho người đi báo ngay với quan Bổ sảnh, tới nhà họ Hồ khám nghiệm tử thi, về trình báo với Thi Công. Bỏ tờ đơn vừa nhận vào túi, Thi Công kết thúc buổi làm việc. Trở về thư phòng nghỉ ngơi, uống trà, dùng cơm, rồi rút tờ đơn ra đặt trên bàn đọc đi đọc lại. ông cúi đầu suy nghĩ, vụ án này thật khó giải quyết. Ông ngoái người giơ tay với lấy một bộ sách cổ trên giá, đó là cuốn "Đập bàn kêu lạ", đặt lên xem. ông so sánh với vụ án này, cho rằng, đây là việc không có đầu mối, khó mà giải quyết được. Thấy người mệt mỏi, ông đặt sách xuống bàn, gục trên án thư, mơ màng rồi ngủ thiếp đi lúc nào không hay.
Trong giấc mơ ông thấy, trên bờ tường có một đàn chín con sẻ vàng, đang vẫy đuôi, gạt mỏ kêu chích chích. Thấy vậy Thi Công rất kinh ngạc. Tiếp đó lại nghe thấy tiếng lợn kêu ụt à ụt ịt. Đó là bảy con lợn con của Du Quang Nhi, nhìn hiền thần kêu ngậu xị. Thi Công thấy lạ, vừa định nhìn kỹ thì chín con sẻ vàng bay vụt xuống đất, cùng với mấy con lợn con đứng cả hai chân nhìn sẻ vàng, sẻ vàng quắp móng, rồi cùng nhau kêu loạn cả lên. Sẻ kêu, lợn hộc, bỗng nhiên thấy một trận gió quái lạ cuốn cả sẻ và lợn đi. Thi Công giật mình tỉnh giấc, kêu ầm lên: "Thật là quái lạ". Thi An đứng bên cạnh thấy chủ nhân kinh sợ kêu lên như thế, chẳng hiểu vì sao, vội vàng gọi:
Ngài! Ngài hãy tỉnh dậy.
Thi Công nghe thấy, ngẩng đầu mở mắt, trầm ngâm hồi lâu. Nghĩ lại việc trong mơ, nói:
- Lạ thay, kỳ quặc thay!
Rồi hỏi Thi An đã mấy giờ rồi. Thi An đáp:
- Mặt trời đã lặn rồi.
Thi Công gật đầu, lại hỏi:
- Vừa giờ anh có trông thấy gì không?
- Con chẳng thấy gì cả, - Thi An nói. - Nhưng có một cơn gió thổi qua tường.
Nghe thấy thế Thi Công nghĩ lại, chín con sẻ vàng, bảy con lợn con quái lạ, chắc là trong đó có uẩn khúc gì đây. Thế rồi ông để sách lên giá nghĩ ngợi liên miên, không sao ngủ được.
Sáng hôm sau trở dậy, Thi Công rửa mặt, mặc quần áo chỉnh tề, rồi truyền lệnh mở công đường. Ngồi vào ghế, ông rút lệnh gọi Anh Công Nhiên và Trường Tử Nhân tới. Hai người tới quỳ lạy dưới công đường, Thi Công nghĩ tới chín con sẻ vàng (hoàng tước) và bảy con lợn con (thất chư) ghi vào lệnh, nói:
- Hạn trong năm ngày, hai người phải bắt được Cửu Hoàng và Thất Chư về đây cho ta, nếu chậm trễ ta sẽ phạt nặng chứ không tha.
Rồi ông đưa lệnh cho hai người. Hai người tiến lên nửa bước, quỳ xuống nói:
- Thưa ngài, chúng con xin ngài cho biết Cửu Hoàng và Thất Chư là tên người hay tên vật, hiện chúng đang ở đâu, xin ngài chỉ rõ. Chúng con đi tìm sẽ bắt về.
Nói xong lại cúi lạy. Thi Công thấy thế nói:
- Các ngươi là đồ vô dụng, ngay cả Cửu Hoàng, Thất Chư cũng không biết, thì làm sai dịch thế nào được? Rõ ràng các người muốn lẩn tránh, đùa với pháp luật. Hãy lôi bọn này ra đánh cho ta.
Hai người này bị sai nhân lôi ra, đánh mỗi người mười lăm gậy. Họ quỳ xuống, nói:
- Thưa ngài, rốt cục thì ngài cũng nên nói rõ, chúng con mới đi bắt được.
Nghe nói thế, Thi Công đùng đùng nổi giận, nói:
- Hai thằng này to gan thật, mỗi khi nhận việc là rất hay kêu ca, nếu còn dám cãi nữa ta sẽ phạt cho các người nặng hơn.
Hai người thấy thế không sao được nữa, đành đứng dậy lui ra. Tiếp tục di dò bắt Cửu Hoàng và Thất Chư. Thi Công cũng rời khỏi công đường.
Năm ngày liền Thi Công vờ ốm, không mở công đường. Sang ngày thứ sáu, vừa sáng dậy đã bảo đánh trống mở cửa công đường, rồi ngồi vào bàn. Sai nha đứng hầu. Thấy một người bước tới bàn dâng tờ trình, nói:
- Thưa ngài, học trò Hồ Đăng Cử, cha mẹ bị giết oan, xin ngài soi xét. Nếu để kéo dài không bắt, hung thủ trốn thoát, lúc đó càng khó thêm. Vả lại con cũng được học hành, lẽ nào không xấu hổ sao? Nếu con dâng tờ trình kêu oan tới nơi khác, xin ngài lúc ấy đừng trách con.
Nói xong cúi lạy, rồi lại đệ tờ trình lên quan. Thi Công cười nói:
- Ông đừng quá nôn nóng như thế. Bản quan đã cho người bí mật dò tìm những người có dấu vết khả nghi, nhất định sẽ minh oan cho cha mẹ ông.
Hồ Đăng Cử không còn cách nào, nói:
- Thưa ngài, ngài nhanh chóng minh oan cho con, con vô cùng biết ơn ngài.
Thi Công nói:
- Xin ông cứ về đi, hãy để tờ trình lại đây.
Hồ Đăng Cử cúi đầu chào, rời khỏi nha môn.
Thi Công cảm thấy rất khó, định gọi người quản gia nhà họ Hồ thẩm vấn, thì thấy nha lệ Anh Công Nhiên và Trương Tử Nhân tới, hai người quỳ xuống thưa rằng:
- Hai chúng con không tìm thấy Cửu Hoàng, Thất Chư, xin ngài gia hạn.
Thi Công thấy thế nổi giận, gọi tay chân lôi ra đánh mỗi người mười lăm gậy. Không cho phép phân trần, cứ đánh tiếp, đau đớn cầu xin cũng không tha, máu chảy đầm đìa. Đánh xong, họ kéo quần, run cầm cập, quỳ xuống thưa:
- Thưa ngài, cúi xin ngài chỉ rõ, thì chúng con đi bắt mới dễ dàng hơn.
Nghe thấy thế, không còn cách nào khác, Thi Công miễn cưỡng nói:
- Gia hạn cho các ngươi thêm ba ngày nữa, nếu không bắt được hung thủ, thì ta tử hình.
Hai người thấy thế thì run như cầy sấy, chỉ biết gật đầu lia lịa. Thi Công lại nói:
- Các ngươi không được lắm lời, hãy đi bắt chúng ngay.
Nghĩ tới hai người sai nha bị hình phạt, ông cảm thấy mình bất nhẫn, rồi rời công đường. Thương thay, hai người ấy vẫn còn cúi đầu kêu oan.
- Ông lớn, xin ông thương cho sinh mệnh chúng con.
Nói xong, lại khấu đầu lia lịa. Những người còn lại trong công đường, thấy hai người như thế, ai cũng thương tình, nói:
- Thôi, đứng dậy! ông lớn đi rồi, còn cầu xin ai!
Hai người nghe thấy, ngẩng đầu lên, không thấy ông lớn đâu cả đành nén giận đứng dậy, đôi chân bị đánh trọng thương, bước đi khập khểnh. Những người xung quanh dìu họ ra khỏi công đường.
Thi Công trở về thư phòng ngồi. Ông nghĩ: "Giấc mơ đêm qua rất kỳ lạ: Cửu Hoàng và Thất Chư, ta cho đó là tên người, ta ra lệnh bắt. Quả là khó tìm ra thật, vì chẳng có chứng cứ gì. Hai lần phải đánh sai dịch tại công đường mà vẫn không tìm ra manh mối kẻ giết người. Ta bị bãi miễn quan chức chỉ là một việc nhỏ, song dân chúng khắp nơi sẽ oán giận, để lại tiếng xấu cho muôn đời". Suy đi nghĩ lại, đầu ông bỗng sáng lên, thấy người phấn chấn, rồi ông cho gọi Thi An lại nói:
- Ta cũng phải đi dò xét.
Thấy vậy, Thi An giật mình, nói:
- Thưa ngài, nếu ngài đi dò xét, tôi nghĩ rằng trước đây ngài đã đóng vai người già, tới nhà Hùng dò xét, may mà bên trong có người cứu, không thì đã nguy hiểm đến tính mạng. Còn nay ngài đi, người trong kẻ ngoài, ai mà chẳng nhận ra ngài
Thi Công nghe xong nói:
- Không phải nói nhiều, ngươi hãy đi lấy quần áo rách của ngươi lại đây cho ta:
Thi An không dám trái lệnh, đành phải về ngay phòng mình lấy quần áo rách đến cho ông lớn.
Thi Công mặc áo rách, mang theo mấy trăm lạng chi dùng. Từ khi tới nhiệm sở, Thi Công không có ai thân thích, chỉ sống với hai người trong bọn Thi An, mấy người trong nha môn và hai người đầu bếp. Thi Công bảo, cơm chiều xong, nhân lúc trời tối ra khỏi nha môn để tiện hành sự. Trước lúc đi Thi Công dặn dò Thi An trông nhà cửa cẩn thận. Thi An vâng lời, rồi len lén tiễn chủ ra, bảo người gác cổng rằng:
- Hôm nay ông lớn tự đi điều tra, đừng có nói bô bô lên. Hãy mau mở cửa ra.
Thi Công ra khỏi cửa rồi mất hút.
Đang đi thì thấy trong quán trà có một số khách ngồi dưới ánh đèn, Thi Công định bước vào, người hầu bàn thấy ông ăn mặc rách rưới, không giống khách uống trà, bèn nói những lời bất nhã. Nghe thấy thế, Thi Công không vui, nhưng sau nghĩ rằng: "Đã là người đi điều tra bí mật, thì chấp gì những lời nói đó? Cứ coi như mình không nghe thấy". Ông gọi:
- Anh hãy mang trà đến cho tôi, loại trà thơm ấy nhé. Đun nước nhanh lên. Bất kể là loại bánh điểm tâm nào cũng mang ra đây. Ăn xong ta sẽ thanh toán tiền.
Người hầu bàn thấy vậy không dám coi thường nữa, vội vàng mang ngay trà và các thứ điểm tâm ra.
Thi Công ngồi uống trà, lắng nghe những người bên cạnh nói chuyện. Trong đó có một người nói:
- Ngài quan huyện của các ông rất liêm chính. Từ khi tới nhậm chức, mọi việc đều giải quyết nhanh chóng, Vừa công minh, vừa thể tất nhân tình. Ông là đấng cứu tinh, là trời xanh lồng lộng.
Người ấy nói xong rồi bỏ đi. Thi Công nghe nói cũng chả góp vào câu gì, chỉ cúi xuống lấy tiền trả, rồi ra khỏi quán.
Đêm đến, trên đường thưa thớt bóng người, mây đen phút chốc phủ kín bầu trời, rồi gió ào ào thổi tới, trời lắc rắc mưa. Đang lúc lo lắng, mình mẩy lại đau nhừ, ông chợt nghĩ: "Sao ta không tới miếu Thành Hoàng trú mưa, nghỉ đêm tại đó?". Thế rồi ông lom khom rảo bước, chạy tới miếu. Xung quanh miếu chẳng thấy một ai, cửa miếu khóa chặt. Mưa mỗi lúc một nặng hạt, ông trầm ngâm nghĩ ngợi. Không còn cách nào khác, đành phải nghỉ bên ngoài. Đáng mừng hơn nữa, trời đã quang mây, mưa ngớt dần, rồi tạnh hẳn. Một vầng trăng tròn vành vạnh đã nhô lên. Đường lầy lội khó đi. Trống lầu đã điểm canh ba, đêm lạnh lẽo, người Thi Công bắt đầu ngấm lạnh. Hiền thần vì dân, nên ông không hề hối hận, chỉ biết rằng làm quan phải trừ kẻ hại dân. Như thế mới gọi là thờ vua phải gắng hết sức mình, vui vẻ mà không kêu ca. Chỉ khổ một nỗi, tính mạng nhà họ Hồ, làm thế nào tìm ra thủ phạm, làm thế nào để giải quyết vụ án này.
Đang mãi suy nghĩ Thi Công nghe thấy trống điểm canh năm, trời dần dần sáng rõ. Một đêm qua đi, trời đã sáng, thấp thoáng có bóng người qua lại. Thi Công vội vàng trở dậy, rời khỏi miếu Thành Hoàng, lủi thủi đi vào phố. Đội chiếc mũ sụp xuống tận mắt, nếu gặp người quen thì cúi đầu đi qua. Để tâm, dò xét bọn thổ hào ác bá, và bọn tội phạm giết người. Khoảng vào giờ Tỵ, bụng đói mềm. Thấy một quán cơm, ông vội vã bước tới Chủ quán thấy Thi Công mặt mũi đen sạm, quần áo rách rưới quát to:
- Gã kia, không được vào đây.
Thi Công nghe thấy tiếng quát, đứng sững lại mỉm cười, rồi bảo:
- Ông chủ! Đừng nói những lời độc địa như thế. Tôi là khách chiếu cố đến cửa hàng của ông, chứ có phải đến xin ông đâu? Bây giờ tôi sẽ trả tiền trước, rồi sau mới ăn cơm, ông thấy thế nào?
Nói xong, ông rút tiền ra, đặt lên quầy. Thế rồi họ bưng thúc ăn ra. Thi Công vừa ăn vừa ngán ngẩm. Đúng là thói đời đen bạc. Nhìn ra ngoài thì thấy một người đàn bà trung tuổi đến trước cửa hàng, vừa khóc vừa kêu gào. Người ấy trạc hơn ba mươi, đầu tóc rối bù, mặt mày tím tái, tay ôm con nhỏ, hai hàng nước mắt đầm đìa, miệng kể lể: "Nhà con thật vô cùng oán hận. Nỗi oan này làm con chết mất! Định đi báo quan, nhưng quan huyện lại ốm, nha môn ngăn lai không cho vào. Nỗi oan khuất của con bao giờ mới được minh oan? Nghe nói ngài quan huyện trong sạch như nước, ngờ đâu ngài lại không mở cửa công đường. Chẳng biết ngài ốm thật hay ốm giả. Nếu như ốm giả mà trốn việc, thì ngài đã phụ ơn vua, không giải quyết đơn từ của dân, uổng công làm cha mẹ dân! Sáng mai tôi lại tới công đường đánh trống kêu oan. Nếu như không nhận giải quyết đơn kiện của tôi, thì tôi dập đầu mà chết quách đi cho rồi". Nói xong, người ấy vừa chửi vừa khóc. Mọi người xúm lại xem, Thi Công thấy thế thầm nghĩ: "Thật không sao hiểu nổi! Một người đàn bà dám chửi quan. Song không biết vì sao! Ta hãy ra khỏi cửa, theo bà để hỏi dò xem sao".
Hai người đi dò xét, không có cách nào tìm ra Cửu Hoàng và Thất Chư, đành về nhà ngồi uống rượu, rồi lại bàn nhau việc dò tìm Cửu Hoàng và Thất Chư. Tử Nhân nói:
- Anh Anh ạ, hãy quên kỳ hạn đi, chúng ta cứ nghĩ đêm nay đã, ngày mai giả làm ăn mày, tới vùng Quan Ngoại trong thành ngày đêm tuần tra dò xét. Chúng ta chẳng sợ khó khăn, chỉ sợ mình không chuyên tâm mà thôi.
Thấy Tử Nhân nói vậy, Công Nhiên gật đầu nói:
- Đã làm việc công, chúng ta phải hết sức cố gắng.
Hai người ăn uống xong rồi nghỉ một đêm. Sáng hôm sau dậy, họ vội vã cải trang, rồi ra khỏi nhà dò tìm tung tích Cửu Hoàng và Thất Chư. Tử Nhân nói:
- Hôm nay là rằm tháng Bảy, năm ngoái rất nhiều chùa thờ Quan âm ở Quan Ngoại thuộc huyện Giang Đô mở hội. Bây giờ chưa truy tìm hung thủ, thì sao chúng ta không đến chùa Hoa Liên ở Quan Ngoại xem một chút.
- Thì đi! Anh Công Nhiên đáp.
Hai người cùng đến chùa. Tới nơi, chùa vắng ngắt, chẳng thấy hội hè đâu. Hai người đứng một lúc, thấy hai chú tiểu từ cửa ngách bước ra. Nhìn kỹ thì chú lớn trạc mười lăm, mười sáu tuổi chú bé trạc mười một mười hai. Các chú môi đỏ chót, răng trắng bóng như những cô bé gái. Người cầm chổi, kẻ cầm hốt rác, cười khúc khích đi ra. Hai sai nha trông thấy, vội nhường đường.
Hai chú tiểu ngẩng lên, thấy họ ăn mặc rách rưới, cúi đầu phàn nàn rằng:
- Hai người tới đây không gặp may rồi! Bằng giờ năm ngoái chùa chúng tôi mở hội Vu Lan, hai anh nghèo khổ có muốn ăn chút cơm chay thì cũng dễ thôi. Nhưng năm nay thì không thể được. Chùa chúng tôi có mấy người mới tới, hình như có tang nên không mở hội.
- Các anh đã tới đây, - chú tiểu lớn nói, - cũng không đến nỗi về không. Nếu chịu khó quét giúp chúng em, thì chúng em sẽ cho các anh ăn cơm.
Hai người sai nha nghe thấy thế, một người cầm chổi, một người cầm hốt rác, vừa quét vừa trò chuyện với hai chú tiểu. Họ hỏi:
- Hai vị sư nhỏ ơi! Bao giờ thì được làm hòa thượng? Sư phụ của các chú tên gì?
- Chúng tôi vốn con nhà tử tế. - Hai chú nói. - Vì lúc nhỏ ốm đau, không làm gì được, đành phải làm hòa thượng, suốt từ sáng đến chiều chỉ có thắp hương, quét dọn chùa, rồi tụng kinh. Sư phụ chúng tôi rất ghê, pháp danh của ông là "Cửu Hoàng Tăng Nhân". Chú tiểu nhỏ nói rất vô tình, hai sai nha nghe thấy, bỗng giật thót mình. Anh Công Nhiên nháy nháy mắt ra hiệu: "Cửu Hoàng" đây rồi!
Sau đó thấy có người gánh thức ăn đi vào chùa, trong đó có cả gà, vịt, cá, thịt. Công Nhiên nhìn thấy, muốn dò la tình hình mới la lên:
- Hai vị sư phụ nhỏ, tôi mạnh dạn hỏi hai vị nhé, theo như tôi nghĩ đây là đất không sát sinh, không biết vì sao lại dùng những thứ này. Nếu không mở hội, thì có lẽ mời khách chăng?
Thấy hỏi, chú tiểu nhỏ nhìn chú tiểu lớn, rồi vội nói chen vào. Chú tiểu nhỏ khoảng mười hai tuổi, đã biết gì về hay dở, nhanh mồm nói:
- Tôi nói cho các anh biết, các anh chớ có nói với ai nhé! Sư chùa chúng tôi rất là ghê, có thể sử dụng đao, có thể bay lên mái hiên, vượt qua tường, kết giao với những anh hùng trong thiên hạ, và những tay hảo hán giang hồ. Hôm nay mời khách, cho nên mua thịt gà. Còn một điều nữa, chùa chúng tôi thiếu một người nấu ăn, nếu hai anh muốn làm thì tốt quá.
Hai sai nha nghe thấy nó nói đúng ý mình. Tử Nhân cười hỏi:
- Chắc rằng sư phụ các ngươi đang ở nhà, hai vị thử vào gặp xem sao, nếu quả thật dùng chúng tôi thì chúng tôi vô cùng biết ơn.
Thấy thế chú tiểu hạ thấp giọng nói:
- Sáng hôm nay sư phụ chúng tôi vào thành, còn ở am ni cô trong thành chưa về chùa. Rằm tháng Bảy mở hội, mời khách tới diễn kịch. Đêm nay ở đấy còn đốt cây bông. Ni cô là em nuôi sư phụ chúng tôi, trạc hơn hai mươi tuổi, rất xinh đẹp. Sư phụ chúng tôi còn mua miếu cho ni cô, dạy ni cô võ nghệ, cưỡi ngựa, sử dụng đao, cái gì ni cô cũng giỏi. Pháp danh của ni cô là Thất Chư Cô Cô, xa gần ai ai cũng biết.
Chú tiểu lớn bên cạnh, quát mắng:
- Đồ con lừa, đùng có nói linh tinh, hôm trước sư phụ đánh cho một trận nhừ đòn không nhớ à, nay lại nói bậy rồi. Sư phụ biết được thì ốm xương.
Đang nói chuyện, thì thấy một người từ trong đi ra, người cao to, bộ mặt gớm guốc dữ tợn. Ông ta gọi toáng lên:
- Tiểu lớn! Các anh đàng sau đang gọi!
Chú tiểu lớn dạ ran, rồi chạy ngay vào trong chùa.
anh sex
truyen dam
phim sex hay
truyen sex hay
truyen lau xanh
truyen loan luan
truyen nguoi lon
truyen sex hoc sinh
Chương 5 (B)
Ngồi trên thuyền suốt một đêm, sáng hôm sau thuyền cập bến, họ lên bờ. Ở đây cư dân rất ít, lại sống rải rác khắp nơi, thấy một khu đất rộng rãi, nhà cửa thâm nghiêm, nhà nào cũng kín cổng cao tường, bao xung quanh khu dân cư là một con sông nhỏ. Đây là một trang trại biệt lập. Hy Đà chắp tay mời vào nhà khách. Gia nhân mang trà ra, rồi Hy Đà bảo làm cơm. Cơm xong, chủ nhân nói với Nhậm Viễn:
- Tôi định sang năm mới mời thầy, nay đã lưu được ông ở đây thì ngày mai khai trương. Hàng quý tôi trả tiền cho ông, ông thấy thế nào?
- Nhà tôi còn một số việc, - Nhậm Viễn nói, - muốn về thu xếp khi nào xong tôi sẽ tới ngay.
- Như thế này vậy. - Hy Đà nói. - Tôi sẽ sai người đem tiền quý này đến nhà ông, và mang thư người nhà về đây cho ông, còn ông không phải viết thư nữa. Thế có được không?
Nhậm Viễn mừng rơn, nói:
- Rất cảm ơn sự nhiệt tình của ông! Có tiền lương một quý thì tôi không phải về nữa.
anh sex
truyen dam
phim sex hay
truyen sex hay
truyen lau xanh
truyen loan luan
truyen nguoi lon
truyen sex hoc sinh
Đêm ấy, Hy Đà đưa ông tới thư phòng nghỉ ngơi. Hôm sau là ngày tết, hai đứa học trò đến chào thầy, thấy chúng khôi ngô tuấn tú, Nhậm Viễn hỏi tuổi, thì đứa lớn mười bảy tuổi, đã biết học văn, đưa bé mười sáu tuổi, đã học cổ văn. Hai đứa trẻ khá thông minh, Nhậm Viễn dạy chúng cũng nhàn nhã, giảng bài là chúng hiểu ngay. Mấy hôm sau Nhậm Viễn nhận được thư nhà, biết nhà đã nhận được tiền lương. Từ đó Nhậm Viễn yên tâm dạy học, không cần phải lo nghĩ gì việc nhà nữa. Trường đầy đủ tiện nghi, thầy trò rất tương đắc. Khi nào học sinh không tới lớp, ngồi một mình trong phòng, Nhậm Viễn cảm thấy cô đơn lạnh lẽo, sau mới hỏi học sinh:
- Ở đây có chỗ nào dạo chơi cho đỡ buồn không?
- Ở đây hoang vắng, chẳng có chỗ nào đáng đi. Chỉ có một điều chúng con muốn dặn thầy là: tối đến không có việc chi thì cứ đi ngủ sớm, đừng bước ra khỏi thư phòng nửa bước. Thầy nhớ kỹ nhé!
Nhậm Viễn nghĩ bụng: "Bên ngoài thư phòng thì là nội thất cho nên nó dặn mình không nên ra".
Thế rồi ông gật đầu nói:
- Hiểu rồi, hiểu rồi.
Năm sau, vào tiết Thanh minh, lại nhận được thư nhà, nói rằng ở nhà đang rất cần tiền, tiền lương tiết Thanh minh đã nhận đủ rồi. Ngoài tin đó ra, thì là những chuyện lặt vặt trong nhà. Nhậm Viễn nói với học trò rằng:
- Người nhà mang tiền đi cũng nên nói qua với thầy một Câu, thầy cũng muốn gửi thư về nhà.
- Viết thì cũng chẳng khó gì - học trò nói. - Chỉ có điều trong thư đừng viết địa chỉ ở đây, nếu viết cha sẽ quở trách.
Hỏi vì sao, thì chúng chỉ cười mà không nói. Nhậm Viễn nghĩ: "Ông ấy không muốn mình viết rõ địa chỉ, chắc là ông ấy sợ người nhà mình biết được, hoặc người khác tìm đến quấy rầy, như thế cũng là cố chấp. Song cũng phải thừa nhận là, ông đã mang tiền lương tới cho gia đình, và đem thư trả lời của người nhà, nên mình cũng yên tâm, chẳng cần viết thư làm gì khiến ông mất vui".
Tới mùa hè, ông dạy người học trò lớn làm văn, còn người học trò bé học văn chương của các bậc tiền bối. Học trò rất thích thú. Chỉ có ông chủ, thì sau khi gặp lần đầu đến nay chẳng thấy bóng dáng ông đâu, thỉnh thoảng có hỏi đến thì chúng bảo không có nhà. Điều ấy ông cũng không hề để ý tới. Vào một đêm, đúng vào lúc Trung thu, học trò nghỉ học, Nhậm Viễn dạo quanh sân. Trăng sáng rất đẹp, thấy thư phòng mở, ông ra cổng nhìn, không phải là nhà trong. Ông lặng lẽ bước ra, thấy bên cạnh có một lối đi nhỏ, hai bên là tường cao quét vôi trắng, trăng sáng vằng vặc như ban ngày, trông xa, không một bóng người. Nhậm Viễn lững thững dạo bước, thấy một luồng gió tanh mùi thịt sống phả vào mặt, lại nghe văng vẳng đâu đây có tiếng kêu rên thảm thiết. Đi thêm mấy bước nữa, thì thấy mấy gian nhà thấp lè tè, tiếng rên rỉ từ trong đó vọng ra, bên trong có ánh đèn leo lét. Nhìn qua khe cửa, ai ngờ, không nhìn thì thôi, khi nhìn vào, ôi thôi, hồn bay phách tán, bủn rủn chân tay, run như cầy sấy.
Bạn biết trong nhà có gì không? Đều là những người thân thể không trọn vẹn. Có người mất mũi, có người mất tai, có người cụt chân, nền nhà sâu tới mấy thước. Có những người máu chảy đầm đìa, nằm chết vật dưới đất. Tất cả những người đó đều rên rỉ đau đớn. Trong chiếc rãnh bao quanh nền nhà, máu, thịt, còn ngổn ngang bừa bãi. Nhậm Viễn vội vã rời khỏi nơi đó, tim cứ đập rộn lên, như ma đuổi. Ông nghĩ: "Chẳng phải ta nằm mơ ư? Lẽ nào ở đây lại là âm ti địa ngục? Thoát ra khỏi địa ngục này đâu phải dễ". Suốt đêm hôm ấy Nhậm Viễn không sao ngủ được.
Sáng hôm sau, thức dậy, Nhậm Viễn cứ ngồi thờ thẫn trong phòng. Nhậm Viễn nghĩ: "Chẳng trách nào bọn học trò bảo mình đừng bước ra khỏi phòng, đó chính là vì thế". Lát sau học trò vào thấy sắc mặt thầy tái nhợt phờ phạt, chúng nói:
- Đêm qua thầy có dám ra ngoài không?
- Không. - Nhậm Viễn đáp.
- Thầy đừng giấu con, chỉ e thầy sợ, - học trò nói.
Thấy nó đoán đúng, Nhậm Viễn nói:
- Thầy đang muốn hỏi con, vì sau nhà con lại có người tàn tật khổ sở như vậy.
- Bây giờ không thể nói thẳng cho thầy biết. Những người bị thương ở trong đó đều do cha con cắt thịt họ làm thuốc. Chỉ vì xưa kia cha con tìm được cuốn sách thuốc bí truyền. Phàm là những người mắc bệnh đều cần những bộ phận trong cơ thể làm dược liệu để chữa trị. Chẳng hạn như, đau ở tai mắt, tứ chi, thì cắt tai mắt, tứ chi luyện thành thuốc; chống ung thư trong lục phủ ngũ tạng thì cắt lục phủ ngũ tạng làm thuốc chữa trị. Chẳng có bệnh nào là không kiến hiệu. Bởi thế, đi bắt một số người về để làm dược liệu, người nào chết thì vứt đi, người nào còn sống thì để dùng đến. Bởi thế mà họ ở đấy chịu khổ sở đau đớn.
- Những người bị cắt thịt lấy ở đâu? - Nhậm Viễn hoảng sợ nói.
- Có người làm nghề thủ công, - học trò nói, - có người là khách giang hồ, cha đã lừa họ tới, rồi không cho họ ra.
Tuy Nhậm Viễn mồm hỏi, song sợ đến thót tim, mặt như chàm đổ, nước mắt lã chã, nói:
- Số phận ta nhất định cũng phải như thế chăng?
- Thầy đừng sợ. - Học trò nói. - Trước đây mời thầy về cũng định thế. Nay mang ơn thầy dạy dỗ, chúng con quyết không bao giờ hại thầy. Sau ba năm sẽ cho thầy về. Song nay thì không về được, thầy phải sống ở đây thôi.
Nhậm Viễn nắm chặt lấy tay học trò, nói:
- Thầy sẽ.. ở lại đây, tính mạng của thầy trong tay các con, miễn chết cho thầy là tốt rồi.
Học trò an ủi thầy mấy câu rồi đi ra.
Từ đó trở đi, ngày ngày Nhậm Viễn như ngồi trên đống lửa, muốn chạy trốn nhưng tường vây quanh rất cao, làm sao có cánh mà bay được? Lại sợ học trò thay lòng đổi dạ, tính mệnh khó bảo toàn, chỉ đành vờ vịt phụng thờ chúng, làm chúng vui lòng. Nghĩ rằng hằng ngày phải tụng "Bạch y Quan âm thần chú” là đấng cứu khổ cứu nạn, mỗi ngày tụng niệm hàng ngàn lần, sớm tối hướng về phía tây, quỳ lạy để cầu mong Quan âm cứu vớt. Vào một đêm, Nhậm Viễn mơ thấy một người đàn bà mặc áo trắng, nói với ông rằng:
- Phải thoát tai họa, chờ gặp vải.
Mấy hôm sau, bỗng thấy học trò mang đến một tấm vải dài khoảng năm sáu trượng, nói là biếu thầy may quần áo, chờ thợ may đến cắt, rồi để ngay trong phòng. Nhậm Viễn nhớ đến giấc mộng, bỗng nghĩ ra một kế. Vào lúc đêm khuya thanh vắng, không một bóng người, ông nhúng vải vào chậu nước cho ướt sũng, buộc vào chiếc bàn, đặt bên cạnh tường, đứng lên đó, rồi cầm lấy đầu kia tung qua tường, vải ướt dính chặt vào bên kia tường, lôi thử thấy đã chắc, rồi sau đó kéo vải bò lên mặt tường. Nhìn xuống dưới là vườn rau, ông lại theo vải đu mình xuống. Đi khỏi vườn rau, vượt ra bờ rào, thấy một con sông nhỏ chặn lối. May mà từ bé Nhậm Viễn đã biết bơi, thế là ông vượt qua sông lên bờ, vắt chân lên cổ chạy. Đúng là:
Bơ vơ như chó mất chủ
Vội vã như cá sẩy câu.
Chạy thục mạng cho tới khi trời sáng, được khoảng mấy dặm, ai ngờ gặp phải đường cùng, trước mắt là Thái Hồ rộng mênh mông bát ngát.
Nhậm Viễn tuy đã trốn chạy, sợ có người đuổi sau bắt được thì chỉ có đường chết. Trước mắt không thấy chiếc thuyền nào đi qua, cuống lên không còn biết cách nào khác. Đợi một lát, thấy đằng trước có một chiếc thuyền buồm đi tới. Nhậm Viễn gào lên kêu cứu. Chiếc thuyền ấy hạ buồm ép mạn vào bờ. Nhậm Viễn nhẩy phốc lên thuyền. Nhà thuyền thấy ông ướt như chuột lột, dáng vẻ kinh hoàng, bèn hỏi:
- Có phải ông gặp cướp không? Bây giờ đi đâu?
- Đúng là gặp cướp, - Nhậm Viễn nói. - Bây giờ cho tôi về núi Động Đình.
- Về đấy cũng thuận đường, - nhà thuyền nói, - Cho ông đi nhờ tới đó được rồi.
Thế là họ kéo buồm lên. Chưa đầy hai giờ thì tới núi Động Đình. Từ biệt nhà thuyền lên bờ, Nhậm Viễn đến ngay nhà người bạn thân. Người bạn trông thấy vội hỏi:
- Tôi nghe thấy anh đang dạy học ở nơi xa, sao trông anh lại phờ phạc thế này. Có phải bị đắm thuyền không?
- Chuyện dài lắm, nói một câu không hết được - Nhậm Viễn nói.
Thế rồi anh kéo bạn đến chỗ vắng, kể lại hết hành động của Ma Hy Đà và việc tranh bị lừa thế nào cho bạn nghe.
Đã như thế - người bạn kinh hãi nói, - phải đi báo quan ngay.
Thế rồi họ cùng nhau tới Thái Hồ Sảnh bẩm quan. Quan Thái Hồ Sảnh gọi vào, hỏi tỉ mỉ từng việc, rồi lệnh cho nha lệ biết. Đồng thời báo cho phó tướng Thái Hồ mang quân lính phối họp cùng đi bắt. Cho Nhậm Viễn làm nhân chứng sống, cùng đến Tiêu Hạ Loan.
Hôm ấy bọn học tr dậy, không thấy thầy đâu, còn tấm vải thì vắt trên tường. Biết là thầy đã vượt tường chạy trốn. Song nơi này không có thuyền làm sao chạy thoát. Chúng gọi người nhà vạch bãi lau sậy, tìm khắp nơi, không thấy Nhậm Viễn đâu. Lúc ấy Ma Hy Đà ở Hồ Châu chưa về, bọn người nhà hết sức lo lắng. Thế rồi bất chợt quan quân kéo đến, gác chặt cửa trước cửa sau. Nhậm Viễn dẫn quân quan đánh thốc vào tìm thấy rất nhiều người cụt tay chân. Hai đứa con trai Ma Hy Đà thấy việc đã bị phát giác, hồn bay phách lạc, nhìn thầy gào lên khóc. Nhậm Viễn thấy tình cảnh của chúng hết sức thương tâm, nhưng cũng chỉ biết nói với chúng rằng:
- Cha các con tội ác tầy trời, ta không giúp nổi các con.
Quan phủ cùm tất cả bọn người nhà Ma Hy Đà lại, rồi giải về nha môn. Sau đó gởi giấp đến phủ Hồ Châu bắt Ma Hy Đà về xét xử.
Khi Ma Hy Đà bị giải đến không cần phải kiềm kẹp truy hỏi gì hắn đã khai hết tội ác của mình. Ngay lập tức quan hạ lệnh đánh bốn mươi gậy, tất cả gia thuộc đều bị tống ngục. Sau đó khép Ma Hy Đà vào tội lăng trì, vợ con đều bị chém đầu. Tịch thu toàn bộ tài sản, cấp cho người bị oan, mai táng xương thịt còn vứt ngổn ngang. Hai phủ Tô, Hồ thời ấy đồn ầm lên về chuyện kỳ quái này. Từ đó Nhậm Viễn thờ phụng Quan âm, cả nhà đều quy cửa Phật, không dám ra ngoài dạy học nữa. Đúng là ác giả ác báo. Nhậm Viễn kính cẩn tụng kinh niệm Phật, thì cuối cùng được Đại Sĩ phù hộ, thoát khỏi địa ngục trần gian. Có người nói:
- Hai đứa học trò không nỡ hại thầy, tại sao thầy lại hại chúng. Như thế có phải bất nhẫn không?
Họ không hiểu rằng, trừ hại cho một vùng, tức là một vùng được hưởng phúc. Người xưa thường vì đại nghĩa mà diệt người thân, con còn chẳng tiếc, thì tiếc gì học trò.
Chương 6
Hồ Tú Tài Cáo Trạng Kêu Oan
Thi Hiển Thần Nằm Mơ Xử Án
Ở huyện Giang Đô có một vị tú tài tên là Hồ Đăng Cử. Cha mẹ ông bị giết, đầu bị lấy mất. Cả nhà Đăng Cử hồn bay phách lạc, hốt hoảng lên báo quan huyện Thi Công. Tới huyện thì gặp lúc quan đang làm việc, ông vào huyện đường, cúi chào rồi trình đơn lên quan, nói:
- Thưa thầy, thầy là bậc bề trên, tai họa bỗng dưng giáng xuống đứa học trò này. Con xin cúi đầu thưa với thầy, thầy hãy lập tức bắt ngay.
Nói xong ông dâng lá đơn lên, thư lại nhận đơn đặt lên bàn. Thi Công lặng lẽ nghiền ngẫm. Trong đơn viết:
"Người trình đơn là học trò Hồ Đăng Cử, đời ông con sống tại huyện Giang Đô. Cha con từng làm Hàn lâm, khi tuổi già sức yếu về sống tại quê nhà. Ông làm nhiều việc thiện, xót thương người nghèo khổ, không bao giờ hà khắc với mọi người. Thế mà vào một đêm nọ, cha mẹ con đóng cửa ngủ. Đến khi trời sáng, chúng con tới thăm, gõ cửa, không thấy cha mẹ thưa, con cuống lên, đạp cửa vào, thấy cha mẹ con đều nằm trên giường, hai chiếc đầu mất tích. Con hổ thẹn học tại trường, mà để cha mẹ chết thảm hại như thế. Con gắn bó với trường học, rất hổ thẹn với cha mẹ. Bởi thế con trình lên ngài, thiết tha mong ngài ra ơn, cho bắt ngay bọn hung thủ, để rửa mối hận cho con. Xin vô cùng biết ơn ngài. Xin dâng đơn".
Thi Công xem xong đơn, bất giác gật đầu, kinh sợ. Ông nghĩ: "Đêm khuya vào nhà, không phải kẻ gian thì là giặc. Vợ chồng Hồ Hàn lâm già mà bị giết, lại không lấy của, mà lấy đầu đi, thì rõ ràng là hành động trả thù. Việc này, lại không viết giấy để lại, thì làm thế nào bây giờ.". ông cảm thấy khó khăn, một lúc lâu ông nói:
- Ta sẽ cử ngay bốn quan Bổ sảnh đi khám nghiệm tử thi, xong sau đó anh cứ khâm liệm cha mẹ. Nhất định ta sẽ tìm ra manh mối giải quyết.
Hồ Tú Tài nghe thấy thế đành nuốt nước mắt, rời khỏi công đường về lo việc khám nghiệm tử thi.
Thi Công cho người đi báo ngay với quan Bổ sảnh, tới nhà họ Hồ khám nghiệm tử thi, về trình báo với Thi Công. Bỏ tờ đơn vừa nhận vào túi, Thi Công kết thúc buổi làm việc. Trở về thư phòng nghỉ ngơi, uống trà, dùng cơm, rồi rút tờ đơn ra đặt trên bàn đọc đi đọc lại. ông cúi đầu suy nghĩ, vụ án này thật khó giải quyết. Ông ngoái người giơ tay với lấy một bộ sách cổ trên giá, đó là cuốn "Đập bàn kêu lạ", đặt lên xem. ông so sánh với vụ án này, cho rằng, đây là việc không có đầu mối, khó mà giải quyết được. Thấy người mệt mỏi, ông đặt sách xuống bàn, gục trên án thư, mơ màng rồi ngủ thiếp đi lúc nào không hay.
Trong giấc mơ ông thấy, trên bờ tường có một đàn chín con sẻ vàng, đang vẫy đuôi, gạt mỏ kêu chích chích. Thấy vậy Thi Công rất kinh ngạc. Tiếp đó lại nghe thấy tiếng lợn kêu ụt à ụt ịt. Đó là bảy con lợn con của Du Quang Nhi, nhìn hiền thần kêu ngậu xị. Thi Công thấy lạ, vừa định nhìn kỹ thì chín con sẻ vàng bay vụt xuống đất, cùng với mấy con lợn con đứng cả hai chân nhìn sẻ vàng, sẻ vàng quắp móng, rồi cùng nhau kêu loạn cả lên. Sẻ kêu, lợn hộc, bỗng nhiên thấy một trận gió quái lạ cuốn cả sẻ và lợn đi. Thi Công giật mình tỉnh giấc, kêu ầm lên: "Thật là quái lạ". Thi An đứng bên cạnh thấy chủ nhân kinh sợ kêu lên như thế, chẳng hiểu vì sao, vội vàng gọi:
Ngài! Ngài hãy tỉnh dậy.
Thi Công nghe thấy, ngẩng đầu mở mắt, trầm ngâm hồi lâu. Nghĩ lại việc trong mơ, nói:
- Lạ thay, kỳ quặc thay!
Rồi hỏi Thi An đã mấy giờ rồi. Thi An đáp:
- Mặt trời đã lặn rồi.
Thi Công gật đầu, lại hỏi:
- Vừa giờ anh có trông thấy gì không?
- Con chẳng thấy gì cả, - Thi An nói. - Nhưng có một cơn gió thổi qua tường.
Nghe thấy thế Thi Công nghĩ lại, chín con sẻ vàng, bảy con lợn con quái lạ, chắc là trong đó có uẩn khúc gì đây. Thế rồi ông để sách lên giá nghĩ ngợi liên miên, không sao ngủ được.
Sáng hôm sau trở dậy, Thi Công rửa mặt, mặc quần áo chỉnh tề, rồi truyền lệnh mở công đường. Ngồi vào ghế, ông rút lệnh gọi Anh Công Nhiên và Trường Tử Nhân tới. Hai người tới quỳ lạy dưới công đường, Thi Công nghĩ tới chín con sẻ vàng (hoàng tước) và bảy con lợn con (thất chư) ghi vào lệnh, nói:
- Hạn trong năm ngày, hai người phải bắt được Cửu Hoàng và Thất Chư về đây cho ta, nếu chậm trễ ta sẽ phạt nặng chứ không tha.
Rồi ông đưa lệnh cho hai người. Hai người tiến lên nửa bước, quỳ xuống nói:
- Thưa ngài, chúng con xin ngài cho biết Cửu Hoàng và Thất Chư là tên người hay tên vật, hiện chúng đang ở đâu, xin ngài chỉ rõ. Chúng con đi tìm sẽ bắt về.
Nói xong lại cúi lạy. Thi Công thấy thế nói:
- Các ngươi là đồ vô dụng, ngay cả Cửu Hoàng, Thất Chư cũng không biết, thì làm sai dịch thế nào được? Rõ ràng các người muốn lẩn tránh, đùa với pháp luật. Hãy lôi bọn này ra đánh cho ta.
Hai người này bị sai nhân lôi ra, đánh mỗi người mười lăm gậy. Họ quỳ xuống, nói:
- Thưa ngài, rốt cục thì ngài cũng nên nói rõ, chúng con mới đi bắt được.
Nghe nói thế, Thi Công đùng đùng nổi giận, nói:
- Hai thằng này to gan thật, mỗi khi nhận việc là rất hay kêu ca, nếu còn dám cãi nữa ta sẽ phạt cho các người nặng hơn.
Hai người thấy thế không sao được nữa, đành đứng dậy lui ra. Tiếp tục di dò bắt Cửu Hoàng và Thất Chư. Thi Công cũng rời khỏi công đường.
Năm ngày liền Thi Công vờ ốm, không mở công đường. Sang ngày thứ sáu, vừa sáng dậy đã bảo đánh trống mở cửa công đường, rồi ngồi vào bàn. Sai nha đứng hầu. Thấy một người bước tới bàn dâng tờ trình, nói:
- Thưa ngài, học trò Hồ Đăng Cử, cha mẹ bị giết oan, xin ngài soi xét. Nếu để kéo dài không bắt, hung thủ trốn thoát, lúc đó càng khó thêm. Vả lại con cũng được học hành, lẽ nào không xấu hổ sao? Nếu con dâng tờ trình kêu oan tới nơi khác, xin ngài lúc ấy đừng trách con.
Nói xong cúi lạy, rồi lại đệ tờ trình lên quan. Thi Công cười nói:
- Ông đừng quá nôn nóng như thế. Bản quan đã cho người bí mật dò tìm những người có dấu vết khả nghi, nhất định sẽ minh oan cho cha mẹ ông.
Hồ Đăng Cử không còn cách nào, nói:
- Thưa ngài, ngài nhanh chóng minh oan cho con, con vô cùng biết ơn ngài.
Thi Công nói:
- Xin ông cứ về đi, hãy để tờ trình lại đây.
Hồ Đăng Cử cúi đầu chào, rời khỏi nha môn.
Thi Công cảm thấy rất khó, định gọi người quản gia nhà họ Hồ thẩm vấn, thì thấy nha lệ Anh Công Nhiên và Trương Tử Nhân tới, hai người quỳ xuống thưa rằng:
- Hai chúng con không tìm thấy Cửu Hoàng, Thất Chư, xin ngài gia hạn.
Thi Công thấy thế nổi giận, gọi tay chân lôi ra đánh mỗi người mười lăm gậy. Không cho phép phân trần, cứ đánh tiếp, đau đớn cầu xin cũng không tha, máu chảy đầm đìa. Đánh xong, họ kéo quần, run cầm cập, quỳ xuống thưa:
- Thưa ngài, cúi xin ngài chỉ rõ, thì chúng con đi bắt mới dễ dàng hơn.
Nghe thấy thế, không còn cách nào khác, Thi Công miễn cưỡng nói:
- Gia hạn cho các ngươi thêm ba ngày nữa, nếu không bắt được hung thủ, thì ta tử hình.
Hai người thấy thế thì run như cầy sấy, chỉ biết gật đầu lia lịa. Thi Công lại nói:
- Các ngươi không được lắm lời, hãy đi bắt chúng ngay.
Nghĩ tới hai người sai nha bị hình phạt, ông cảm thấy mình bất nhẫn, rồi rời công đường. Thương thay, hai người ấy vẫn còn cúi đầu kêu oan.
- Ông lớn, xin ông thương cho sinh mệnh chúng con.
Nói xong, lại khấu đầu lia lịa. Những người còn lại trong công đường, thấy hai người như thế, ai cũng thương tình, nói:
- Thôi, đứng dậy! ông lớn đi rồi, còn cầu xin ai!
Hai người nghe thấy, ngẩng đầu lên, không thấy ông lớn đâu cả đành nén giận đứng dậy, đôi chân bị đánh trọng thương, bước đi khập khểnh. Những người xung quanh dìu họ ra khỏi công đường.
Thi Công trở về thư phòng ngồi. Ông nghĩ: "Giấc mơ đêm qua rất kỳ lạ: Cửu Hoàng và Thất Chư, ta cho đó là tên người, ta ra lệnh bắt. Quả là khó tìm ra thật, vì chẳng có chứng cứ gì. Hai lần phải đánh sai dịch tại công đường mà vẫn không tìm ra manh mối kẻ giết người. Ta bị bãi miễn quan chức chỉ là một việc nhỏ, song dân chúng khắp nơi sẽ oán giận, để lại tiếng xấu cho muôn đời". Suy đi nghĩ lại, đầu ông bỗng sáng lên, thấy người phấn chấn, rồi ông cho gọi Thi An lại nói:
- Ta cũng phải đi dò xét.
Thấy vậy, Thi An giật mình, nói:
- Thưa ngài, nếu ngài đi dò xét, tôi nghĩ rằng trước đây ngài đã đóng vai người già, tới nhà Hùng dò xét, may mà bên trong có người cứu, không thì đã nguy hiểm đến tính mạng. Còn nay ngài đi, người trong kẻ ngoài, ai mà chẳng nhận ra ngài
Thi Công nghe xong nói:
- Không phải nói nhiều, ngươi hãy đi lấy quần áo rách của ngươi lại đây cho ta:
Thi An không dám trái lệnh, đành phải về ngay phòng mình lấy quần áo rách đến cho ông lớn.
Thi Công mặc áo rách, mang theo mấy trăm lạng chi dùng. Từ khi tới nhiệm sở, Thi Công không có ai thân thích, chỉ sống với hai người trong bọn Thi An, mấy người trong nha môn và hai người đầu bếp. Thi Công bảo, cơm chiều xong, nhân lúc trời tối ra khỏi nha môn để tiện hành sự. Trước lúc đi Thi Công dặn dò Thi An trông nhà cửa cẩn thận. Thi An vâng lời, rồi len lén tiễn chủ ra, bảo người gác cổng rằng:
- Hôm nay ông lớn tự đi điều tra, đừng có nói bô bô lên. Hãy mau mở cửa ra.
Thi Công ra khỏi cửa rồi mất hút.
Đang đi thì thấy trong quán trà có một số khách ngồi dưới ánh đèn, Thi Công định bước vào, người hầu bàn thấy ông ăn mặc rách rưới, không giống khách uống trà, bèn nói những lời bất nhã. Nghe thấy thế, Thi Công không vui, nhưng sau nghĩ rằng: "Đã là người đi điều tra bí mật, thì chấp gì những lời nói đó? Cứ coi như mình không nghe thấy". Ông gọi:
- Anh hãy mang trà đến cho tôi, loại trà thơm ấy nhé. Đun nước nhanh lên. Bất kể là loại bánh điểm tâm nào cũng mang ra đây. Ăn xong ta sẽ thanh toán tiền.
Người hầu bàn thấy vậy không dám coi thường nữa, vội vàng mang ngay trà và các thứ điểm tâm ra.
Thi Công ngồi uống trà, lắng nghe những người bên cạnh nói chuyện. Trong đó có một người nói:
- Ngài quan huyện của các ông rất liêm chính. Từ khi tới nhậm chức, mọi việc đều giải quyết nhanh chóng, Vừa công minh, vừa thể tất nhân tình. Ông là đấng cứu tinh, là trời xanh lồng lộng.
Người ấy nói xong rồi bỏ đi. Thi Công nghe nói cũng chả góp vào câu gì, chỉ cúi xuống lấy tiền trả, rồi ra khỏi quán.
Đêm đến, trên đường thưa thớt bóng người, mây đen phút chốc phủ kín bầu trời, rồi gió ào ào thổi tới, trời lắc rắc mưa. Đang lúc lo lắng, mình mẩy lại đau nhừ, ông chợt nghĩ: "Sao ta không tới miếu Thành Hoàng trú mưa, nghỉ đêm tại đó?". Thế rồi ông lom khom rảo bước, chạy tới miếu. Xung quanh miếu chẳng thấy một ai, cửa miếu khóa chặt. Mưa mỗi lúc một nặng hạt, ông trầm ngâm nghĩ ngợi. Không còn cách nào khác, đành phải nghỉ bên ngoài. Đáng mừng hơn nữa, trời đã quang mây, mưa ngớt dần, rồi tạnh hẳn. Một vầng trăng tròn vành vạnh đã nhô lên. Đường lầy lội khó đi. Trống lầu đã điểm canh ba, đêm lạnh lẽo, người Thi Công bắt đầu ngấm lạnh. Hiền thần vì dân, nên ông không hề hối hận, chỉ biết rằng làm quan phải trừ kẻ hại dân. Như thế mới gọi là thờ vua phải gắng hết sức mình, vui vẻ mà không kêu ca. Chỉ khổ một nỗi, tính mạng nhà họ Hồ, làm thế nào tìm ra thủ phạm, làm thế nào để giải quyết vụ án này.
Đang mãi suy nghĩ Thi Công nghe thấy trống điểm canh năm, trời dần dần sáng rõ. Một đêm qua đi, trời đã sáng, thấp thoáng có bóng người qua lại. Thi Công vội vàng trở dậy, rời khỏi miếu Thành Hoàng, lủi thủi đi vào phố. Đội chiếc mũ sụp xuống tận mắt, nếu gặp người quen thì cúi đầu đi qua. Để tâm, dò xét bọn thổ hào ác bá, và bọn tội phạm giết người. Khoảng vào giờ Tỵ, bụng đói mềm. Thấy một quán cơm, ông vội vã bước tới Chủ quán thấy Thi Công mặt mũi đen sạm, quần áo rách rưới quát to:
- Gã kia, không được vào đây.
Thi Công nghe thấy tiếng quát, đứng sững lại mỉm cười, rồi bảo:
- Ông chủ! Đừng nói những lời độc địa như thế. Tôi là khách chiếu cố đến cửa hàng của ông, chứ có phải đến xin ông đâu? Bây giờ tôi sẽ trả tiền trước, rồi sau mới ăn cơm, ông thấy thế nào?
Nói xong, ông rút tiền ra, đặt lên quầy. Thế rồi họ bưng thúc ăn ra. Thi Công vừa ăn vừa ngán ngẩm. Đúng là thói đời đen bạc. Nhìn ra ngoài thì thấy một người đàn bà trung tuổi đến trước cửa hàng, vừa khóc vừa kêu gào. Người ấy trạc hơn ba mươi, đầu tóc rối bù, mặt mày tím tái, tay ôm con nhỏ, hai hàng nước mắt đầm đìa, miệng kể lể: "Nhà con thật vô cùng oán hận. Nỗi oan này làm con chết mất! Định đi báo quan, nhưng quan huyện lại ốm, nha môn ngăn lai không cho vào. Nỗi oan khuất của con bao giờ mới được minh oan? Nghe nói ngài quan huyện trong sạch như nước, ngờ đâu ngài lại không mở cửa công đường. Chẳng biết ngài ốm thật hay ốm giả. Nếu như ốm giả mà trốn việc, thì ngài đã phụ ơn vua, không giải quyết đơn từ của dân, uổng công làm cha mẹ dân! Sáng mai tôi lại tới công đường đánh trống kêu oan. Nếu như không nhận giải quyết đơn kiện của tôi, thì tôi dập đầu mà chết quách đi cho rồi". Nói xong, người ấy vừa chửi vừa khóc. Mọi người xúm lại xem, Thi Công thấy thế thầm nghĩ: "Thật không sao hiểu nổi! Một người đàn bà dám chửi quan. Song không biết vì sao! Ta hãy ra khỏi cửa, theo bà để hỏi dò xem sao".
Hai người đi dò xét, không có cách nào tìm ra Cửu Hoàng và Thất Chư, đành về nhà ngồi uống rượu, rồi lại bàn nhau việc dò tìm Cửu Hoàng và Thất Chư. Tử Nhân nói:
- Anh Anh ạ, hãy quên kỳ hạn đi, chúng ta cứ nghĩ đêm nay đã, ngày mai giả làm ăn mày, tới vùng Quan Ngoại trong thành ngày đêm tuần tra dò xét. Chúng ta chẳng sợ khó khăn, chỉ sợ mình không chuyên tâm mà thôi.
Thấy Tử Nhân nói vậy, Công Nhiên gật đầu nói:
- Đã làm việc công, chúng ta phải hết sức cố gắng.
Hai người ăn uống xong rồi nghỉ một đêm. Sáng hôm sau dậy, họ vội vã cải trang, rồi ra khỏi nhà dò tìm tung tích Cửu Hoàng và Thất Chư. Tử Nhân nói:
- Hôm nay là rằm tháng Bảy, năm ngoái rất nhiều chùa thờ Quan âm ở Quan Ngoại thuộc huyện Giang Đô mở hội. Bây giờ chưa truy tìm hung thủ, thì sao chúng ta không đến chùa Hoa Liên ở Quan Ngoại xem một chút.
- Thì đi! Anh Công Nhiên đáp.
Hai người cùng đến chùa. Tới nơi, chùa vắng ngắt, chẳng thấy hội hè đâu. Hai người đứng một lúc, thấy hai chú tiểu từ cửa ngách bước ra. Nhìn kỹ thì chú lớn trạc mười lăm, mười sáu tuổi chú bé trạc mười một mười hai. Các chú môi đỏ chót, răng trắng bóng như những cô bé gái. Người cầm chổi, kẻ cầm hốt rác, cười khúc khích đi ra. Hai sai nha trông thấy, vội nhường đường.
Hai chú tiểu ngẩng lên, thấy họ ăn mặc rách rưới, cúi đầu phàn nàn rằng:
- Hai người tới đây không gặp may rồi! Bằng giờ năm ngoái chùa chúng tôi mở hội Vu Lan, hai anh nghèo khổ có muốn ăn chút cơm chay thì cũng dễ thôi. Nhưng năm nay thì không thể được. Chùa chúng tôi có mấy người mới tới, hình như có tang nên không mở hội.
- Các anh đã tới đây, - chú tiểu lớn nói, - cũng không đến nỗi về không. Nếu chịu khó quét giúp chúng em, thì chúng em sẽ cho các anh ăn cơm.
Hai người sai nha nghe thấy thế, một người cầm chổi, một người cầm hốt rác, vừa quét vừa trò chuyện với hai chú tiểu. Họ hỏi:
- Hai vị sư nhỏ ơi! Bao giờ thì được làm hòa thượng? Sư phụ của các chú tên gì?
- Chúng tôi vốn con nhà tử tế. - Hai chú nói. - Vì lúc nhỏ ốm đau, không làm gì được, đành phải làm hòa thượng, suốt từ sáng đến chiều chỉ có thắp hương, quét dọn chùa, rồi tụng kinh. Sư phụ chúng tôi rất ghê, pháp danh của ông là "Cửu Hoàng Tăng Nhân". Chú tiểu nhỏ nói rất vô tình, hai sai nha nghe thấy, bỗng giật thót mình. Anh Công Nhiên nháy nháy mắt ra hiệu: "Cửu Hoàng" đây rồi!
Sau đó thấy có người gánh thức ăn đi vào chùa, trong đó có cả gà, vịt, cá, thịt. Công Nhiên nhìn thấy, muốn dò la tình hình mới la lên:
- Hai vị sư phụ nhỏ, tôi mạnh dạn hỏi hai vị nhé, theo như tôi nghĩ đây là đất không sát sinh, không biết vì sao lại dùng những thứ này. Nếu không mở hội, thì có lẽ mời khách chăng?
Thấy hỏi, chú tiểu nhỏ nhìn chú tiểu lớn, rồi vội nói chen vào. Chú tiểu nhỏ khoảng mười hai tuổi, đã biết gì về hay dở, nhanh mồm nói:
- Tôi nói cho các anh biết, các anh chớ có nói với ai nhé! Sư chùa chúng tôi rất là ghê, có thể sử dụng đao, có thể bay lên mái hiên, vượt qua tường, kết giao với những anh hùng trong thiên hạ, và những tay hảo hán giang hồ. Hôm nay mời khách, cho nên mua thịt gà. Còn một điều nữa, chùa chúng tôi thiếu một người nấu ăn, nếu hai anh muốn làm thì tốt quá.
Hai sai nha nghe thấy nó nói đúng ý mình. Tử Nhân cười hỏi:
- Chắc rằng sư phụ các ngươi đang ở nhà, hai vị thử vào gặp xem sao, nếu quả thật dùng chúng tôi thì chúng tôi vô cùng biết ơn.
Thấy thế chú tiểu hạ thấp giọng nói:
- Sáng hôm nay sư phụ chúng tôi vào thành, còn ở am ni cô trong thành chưa về chùa. Rằm tháng Bảy mở hội, mời khách tới diễn kịch. Đêm nay ở đấy còn đốt cây bông. Ni cô là em nuôi sư phụ chúng tôi, trạc hơn hai mươi tuổi, rất xinh đẹp. Sư phụ chúng tôi còn mua miếu cho ni cô, dạy ni cô võ nghệ, cưỡi ngựa, sử dụng đao, cái gì ni cô cũng giỏi. Pháp danh của ni cô là Thất Chư Cô Cô, xa gần ai ai cũng biết.
Chú tiểu lớn bên cạnh, quát mắng:
- Đồ con lừa, đùng có nói linh tinh, hôm trước sư phụ đánh cho một trận nhừ đòn không nhớ à, nay lại nói bậy rồi. Sư phụ biết được thì ốm xương.
Đang nói chuyện, thì thấy một người từ trong đi ra, người cao to, bộ mặt gớm guốc dữ tợn. Ông ta gọi toáng lên:
- Tiểu lớn! Các anh đàng sau đang gọi!
Chú tiểu lớn dạ ran, rồi chạy ngay vào trong chùa.
anh sex
truyen dam
phim sex hay
truyen sex hay
truyen lau xanh
truyen loan luan
truyen nguoi lon
truyen sex hoc sinh
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)